THEO DÕI HUYẾT ÁP ĐỘNG MẠCH
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. Định nghĩa
Huyết áp động mạch là áp lực của máu trên thành động mạch, tạo thành bởi các yếu tố :
- Sức co bóp của tim.
- Lưu lượng máu trong động mạch.
- Sức cản ngoại vi.
Tim co bóp đẩy máu vào động mạch, gặp sức cản của các động mạch càng ngày càng nhỏ dần, máu không chảy tuột đi ngay mà tác động lên thành động mạch làm căng giãn thành động mạch.
Ở thì tâm trương, không có sức đẩy của tim, nhưng nhờ có tính đàn hồi, thành động mạch co lại gây áp lực đẩy máu đi; do vậy ở thì tâm trương máu vẫn lưu thông và huyết áp vẫn tồn tại. Quá trình di chuyển của máu trong lòng động mạch theo hình sóng nên huyết áp động mạch có hai trị số.
Huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa): là áp lực của máu trong động mạch lên tới mức cao nhất khi tim co bóp.
Huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu): là áp lực của máu ở điểm thấp nhất khi tim ở thì tâm trương.
- Đơn vị đo huyết áp là milimet thủy ngân (mmHg).
- Huyết áp tâm thu ghi ở vị trí tử số.
- Huyết áp tâm trương ghi ở vị trí mẫu số.
- Giới hạn bình thường của huyết áp tâm thu ở người trung niên: 100 - 120mmHg.
- Giới hạn bình thường của huyết áp tâm trương ở người trung niên: 60 - 80mmHg.
- Chênh lệch giữa huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương được gọi là huyết áp hiệu số.
Ví dụ: Huyết áp tâm thu = 120 mmHg.
Huyết áp tâm trương = 70 mmHg.
- Tăng huyết áp:
+ Khi đo huyết áp theo phương pháp Krotkof cho người lớn, nếu huyết áp (HA) tâm thu ≥ 140mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90mmHg, thì được gọi là tăng HA hệ thống động mạch.
+ Tăng huyết áp khi HA trung bình ≥ 110mmHg, hoặc khi đo huyết áp liên tục trong 24 giờ ≥ 135/85mmHg.
HA tâm thu + ( 2 x HA tâm trương )
HA trung bình =
3
+ Khi HA tăng ≥ 220/120mmHg gọi là “ cơn tăng HA kịch phát “.
+ Tăng HA thường gặp ở bệnh nhân mới mắc bệnh về tim mạch, thận, nội tiết…
Kết quả huyết áp ghi là: 120/70mmHg; chênh lệch giữa hai trị số là 50mmHg.
1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến huyết áp
- Tuổi: huyết áp có xu hướng tăng theo lứa tuổi.
Trẻ em thường có số đo huyết áp thấp, huyết áp tăng dần ở người lớn, huyết áp ở người già thường cao hơn người trẻ.
Ở trẻ em huyết áp tâm thu được tính bằng công thức 80 + 2n (n = số tuổi).
- Giới tính: ở cùng độ tuổi, nữ có huyết áp thấp hơn nam.
- Vận động, luyện tập: có thể làm tăng huyết áp tức thời. Khi tiếp xúc với nhân viên y tế, HA tâm thu của bệnh nhân có thể tăng thêm 20 – 30mmHg, HA tâm trương tăng thêm 5 – 10mmHg, được gọi là “ tăng HA áo choàng trắng “.
- Xúc động: lo lắng, sợ hãi, phấn chấn cũng có thể làm tăng HA.
- Thuốc điều trị:
+ Thuốc co mạch gây tăng HA.
+ Thuốc giãn mạch gây hạ HA.
+ Thuốc ngủ cũng gây hạ HA.
- Môi trường: ồn ào, phòng đông người, chật chội có thể làm tăng HA tạm thời.
1.3. Những thay đổi bệnh lý của huyết áp
- Huyết áp thấp:
+ Áp lực máu động mạch thấp hơn bình thường (HA tâm thu < 90mmHg và HA tâm trương < 60mmHg) gọi là HA thấp.
+ Một số người thường xuyên có HA thấp < 95/60mmHg nhưng không có biểu hiện bệnh lý.
+ HA thấp kèm theo các dấu hiệu trụy mạch hoặc sốc (HA tâm thu ≤ 80 mmHg) là tình trạng nguy kịch phải điều trị và xử trí kịp thời nếu không sẽ gây nguy hiểm cho tính mạng bệnh nhân.
+ HA thấp thường gặp trong một số bệnh: nhiễm khuẩn cấp tính, trạng thái mất nước, chảy máu...
- Huyết áp kẹt:
Chênh lệch giữa trị số HA tâm thu và HA tâm trương (HA hiệu số) giảm xuống ≤ 20mmHg thì gọi là HA kẹt. Trường hợp này phải báo cáo ngay cho bác sĩ.
2. QUY TRÌNH KỸ THUẬT ĐO HUYẾT ÁP ĐỘNG MẠCH
2.1. Nguyên lý
Nguyên lý đo HA là bơm căng một băng tay bằng cao su, làm mất mạch đập của một động mạch rồi sau đó xả hơi dần dần, đồng thời ghi những phản ứng của động mạch.
- HA tâm thu tương đương với thời điểm máu bắt đầu đi qua trong khi sức ép ở băng cao su giảm.
- HA tâm trương tương ứng với thời điểm máu hoàn toàn tự do lưu thông trong động mạch khi không còn sức ép của băng cao su.
2.2. Quy định chung khi đo huyết áp
- Bệnh nhân nghỉ ngơi hoàn toàn ít nhất 15 phút. Nên đo vào cùng thời gian trong ngày.
- Kiểm tra máy đo HA: van, bơm cao su, dải băng cuốn, áp lực kế đồng hồ... dùng cùng một máy đo HA cho các lần đo.
- Vị trí đo: thường đo ở động mạch cánh tay; trường hợp cần thiết, có chỉ định của bác sĩ đo ở động mạch khoeo chân và các vị trí khác; khi ghi kết quả phải ghi cả vị trí đo.
- Định đo ở vị trí nào thì phải tìm động mạch ở đó trước.
- Không được dừng lại giữa chừng rồi lại bơm hơi tiếp, sẽ cho kết quả sai.
- Khi xả hơi phải xả liên tục đến khi kim hoặc cột thủy ngân hạ xuống số 0.
- Khi thấy trị số huyết áp không bình thường như cơn tăng HA kịch phát, bệnh nhân có sốc, HA kẹt, truỵ mạch báo cáo ngay cho bác sĩ điều trị.
2.3. Dụng cụ
Để đo HA cần có máy đo HA, còn gọi là HA kế và ống nghe tim phổi.
+ Máy đo huyết áp: gồm 1 dải băng cuốn bằng vải, bên trong của dải băng cuốn có một túi hơi bằng cao su. Túi hơi này có hai ống cao su, một ống nối với bóng cao su để bơm khí vào túi hơi. Ở đầu của bóng cao su có một van. Khi xoay van này ngược chiều kim đồng hồ là để xả khí từ túi hơi ra. Khi xoay cùng chiều kim đồng hồ là để bơm khí vào túi hơi và giữ khí ở lại đó.
Ống cao su còn lại của túi hơi nối với áp lực kế đồng hồ hoặc áp lực kế thủy ngân hoặc áp lực kế điện tử.
+ Các loại máy đo HA:
- Máy đo HA thủy ngân: chính xác hơn nhưng cồng kềnh.
- Máy đo HA đồng hồ: tiện sử dụng hơn nhưng kém chính xác.
- Máy đo HA điện tử: loại này không cần sử dụng ống nghe để nghe những âm thanh của áp lực. Sau khi bơm khí vào rồi xả khí ra khỏi túi hơi thì máy sẽ tự đo lượng HA và đưa kết quả HA tâm thu và tâm trương lên màn hình.
+ Chọn kích thước túi hơi khi đo HA.
- Để cho kết quả chính xác phải sử dụng đúng cỡ túi hơi cho từng bệnh nhân. Dùng sai cỡ túi hơi sẽ làm sai số kết quả tới 25mmHg.
- Kích thước của túi hơi phụ thuộc vào chu vi của chi dùng để đo HA.
- Chiều rộng của túi hơi bằng 40% chiều rộng của chu vi hoặc rộng hơn 20% đường kính của đoạn giữa các chi được dùng để đo HA.
- Chiều dài của túi hơi phải cuốn được 60 - 100% chu vi của chi ở điểm đo HA.
3. QUY TRÌNH ĐO HUYẾT ÁP ĐỘNG MẠCH CÁNH TAY
3.1. Chuẩn bị dụng cụ
- Máy đo HA kế đồng hồ hoặc thủy ngân, hoặc điện tử.
- Ống nghe tim phổi.
- Bảng theo dõi dấu hiệu sinh tồn hoặc sổ ghi chép.
- Bút để ghi kết quả.
3.2. Chuẩn bị bệnh nhân
Giải thích cho bệnh nhân biết kỹ thuật sắp làm, thông báo để bệnh nhân không ăn, uống, hút thuốc hay vận động nặng, nằm trên giường nghỉ ngơi hoàn toàn 15 phút trước khi thực hành kỹ thuật.
3.3. Thực hành kỹ thuật
- Người làm kỹ thuật rửa tay thường quy.
- Đưa dụng cụ đến giường bệnh nhân.
- Đặt bệnh nhân ở tư thế phù hợp, thoải mái. Nếu tình trạng bệnh nhân cho phép có thể đo ở tư thế ngồi, để tay đo HA ở ngang vị trí của tim, lòng bàn tay ngửa.
- Bệnh nhân nằm, tay ngang vị trí của tim, tay hơi chếch ra ngoài, lòng bàn tay ngửa. Đo HA ở vị trí khác phải có chỉ định của bác sĩ.
- Bộc lộ vùng cánh tay, tay áo quá chật thì cởi hẳn tay áo để lộ cánh tay.
- Tìm động mạch cánh tay.
- Đặt phần giữa túi hơi ngay trên đường đi của động mạch cánh tay, mép dưới của túi hơi cách nếp khuỷu tay từ 2,5 - 5cm.
- Cuộn dải băng nhẹ nhàng vừa đủ chặt vào cánh tay rồi cố định lại.
- Dùng máy đo HA đồng hồ sau khi cuộn dải băng xong mắc đồng hồ vào băng cuốn sao cho có thể nhìn thấy dễ dàng hoặc có thể đặt đồng hồ trên một mặt phẳng ở một vị trí có thể nhìn rõ.
Dùng máy đo HA thủy ngân phải đặt ngay ngắn vững chắc trên một mặt phẳng, ở một vị trí có thể nhìn rõ cột chia độ.
- Vặn van bơm khí theo chiều kim đồng hồ, vặn vừa đủ để khi mở van dễ dàng.
- Mắc ống nghe vào tai để tai ống nghe hướng về phía trước.
- Đặt loa ống nghe lên trên động mạch cánh tay. Dùng đầu ngón tay cái và ngón trỏ để giữ loa ống nghe, để cho toàn bộ bề mặt của loa ống nghe luôn luôn tiếp xúc với da bệnh nhân.
- Bóp bóng bơm khí vào túi hơi cho đến khi không nghe thấy tiếng đập rồi bơm tiếp thêm 30mmHg nữa.
- Mở van từ từ để xả hơi sao cho áp lực hạ dần với tốc độ 2 - 3mmHg/giây; đồng thời chú ý nghe tiếng đập của mạch và quan sát số đo trên mặt đồng hồ hoặc cột thủy ngân.
- Ghi trị số HA tâm thu khi nghe thấy tiếng đập đầu tiên sau khoảng thời gian im lặng. Các tiếng đập sau to dần và rõ hơn trong khi vẫn tiếp tục xả hơi.
- Ghi trị số HA tâm trương khi nghe thấy tiếng đập cuối cùng.
Trong trường hợp từ khoảng thời gian nghe thấy tiếng đập đầu tiên đến khi nghe thấy tiếng đập sau cùng nếu nghe được tiếng đập có thay đổi rõ ràng về cường độ thì phải ghi trị số của huyết áp vào thời điểm đó.
- Xả hết khí trong túi hơi ra sau khi đã xác định được HA tâm trương. Có thể mở van để khí xả ra nhanh.
- Tháo băng cuốn tay, cuốn lại cho gọn.
- Giúp bệnh nhân nằm lại tư thế thoải mái.
- Thu dọn dụng cụ.
- Ghi chép, báo cáo kết quả.
Ghi kết quả vào bảng theo dõi dấu hiệu sinh tồn hoặc sổ. Báo cáo kết quả cho bác sĩ điều trị khi kết quả HA bất thường hoặc sau khi dùng thuốc HA đã trở lại bình thường.
3.4. Ghi kết quả huyết áp vào bảng theo dõi
- Ghi kết quả HA vào bảng theo dõi theo hai cách:
+ Theo phân số (120/70mmHg) và biểu diễn dưới dạng biểu đồ.
+ Biểu đồ HA thường áp dụng khi phải theo dõi HA của bệnh nhân một cách thường xuyên, liên tục như trong gây mê, ngay sau khi mổ, tình trạng sốc, chảy máu...
- Số đo HA gồm hai trị số, khi biểu diễn HA trên biểu đồ thường dùng kí hiệu. Đầu mũi tên xuống biểu thị HA tâm thu, đầu mũi tên đi lên biểu thị HA tâm trương.
- Dùng thước để kẻ đường nối giữa HA tâm thu với HA tâm thu lần đo trước và HA tâm trương với HA tâm trương lần đo trước để tiện việc theo dõi diễn biến, tiến triển của HA.
- Trong trường hợp nghe thấy tiếng đập có sự thay đổi rõ rệt về cường độ âm sắc trước khi mất hẳn thì phải ghi lại cả trị số ở thời điểm đó.
Ví du: HA tâm thu là 140mmHg.
Nghe được thay đổi cường độ âm sắc ở 95mmHg và mất hẳn ở 80mmHg.
Ghi huyết áp của bệnh nhân là: 140/95 - 80mmHg.
- Nếu kim đồng hồ hoặc thủy ngân đã tụt về vị trí số 0 mà vẫn nghe thấy tiếng đập thì phải ghi cả trị số lúc bắt đầu thay đổi cường độ âm sắc và cả trị số 0. Ví dụ: 140/90 - 0mmHg.
- Khi có nghi ngờ kết quả đo HA thì đo lại ở cánh tay khác, vị trí khác hoặc dùng máy khác. Nếu đo lại ở vị trí cũ thì phải đợi 30 phút sau.
- Khi đo HA lần đầu tiên cho bệnh nhân, phải xác định sơ bộ HA tâm thu bằng cách bắt mạch trong khi bơm khí vào túi hơi.
- Xác định sơ bộ HA:
Bắt mạch cánh tay ở ngay mép dưới túi hơi. Bóp bóng cao su bơm khí vào túi hơi cho đến khi không sờ thấy mạch. Ghi trị số áp lực trên đồng hồ hoặc cột thủy ngân ở thời điểm đó. Mở van xả hết khí ở trong túi hơi, sau đó đóng van lại đợi 1- 2 phút mới tiến hành đo HA chính thức.
Không đo HA nhiều lần ở một vị trí vì cho kết quả không chính xác.
Nhiều trường hợp phải đo HA ở cả hai tay để so sánh. Đo HA ở đùi để so sánh với HA ở tay.http://www.benhvien103.vn/vietnamese/bai-giang-chuyen-nganh/y-hoc-hat-nhan/nguyen-tac-dieu-tri-va-cham-soc-giam-nhe-trong-ung-thu/1368/
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét