1. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da
Hàng ngày
chúng ta vẫn thường tụng Nam mô A – di – đà Phật. Nam mô Bổn sư Thích –
ca Mâu – ni Phật. Nhưng quí vị có biết Nam – mô có nghĩa là gì không?
Chắc là rất ít người biết được. Cách đây vài năm, có lần tôi đã đặt vấn
đề này trong một pháp hội nhưng chưa một người nào có được câu trả lời
hoàn chỉnh cả.
Nam – mô, phiên âm chữ Nama từ tiếng Phạn. Trung
Hoa dịch là “Quy y”; cũng dịch là “Quy mạng kính đầu”. Có nghĩa là: “Con
xin đem toàn thể sinh mạng của con về nương tựa vào chư Phật”. Cái bản
ngã của chính mình không còn nữa. Mà con xin dâng trọn vẹn thân mạng
mình lên chư Phật. Nếu chư Phật cho con sống thì con sống; bảo con chết
thì con chết. Con hoàn toàn tin vào chư Phật. Đó gọi là “Quy mạng”.
Còn “Kính đầu” có nghĩa là hết sức cung kính và nương tựa vào đức Phật. Đó là ý nghĩa của Nam – mô.
Còn “Quy y” có nghĩa là đem hết thân và tâm của mình, đem hết cả mạng sống của mình trở về nương tựa vào đức Phật.
Nói tổng quát. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có nghĩa là “Xin quy y Tam Bảo vô biên vô tận trong khắp mười phương”.
Đó
chính là bản thể của Bồ – tát Quán Thế Âm. Quí vị nên khởi tâm Từ Bi mà
trì niệm. Mặc dù đó là bản thể của Bồ – tát Quán Thế Âm, nhưng cũng có
nghĩa là quy y với toàn thể chư Phật trong mười phương, suốt cả ba đời:
quá khứ, hiện tại, vị lai. Khi quí vị trì niệm thần chú này. Không những
chỉ nhắc nhở mình quy y với Tam Bảo thường trụ trong khắp mười phương
vô biên vô tận mà còn khiến cho tất cả mọi loài hữu tình khi nghe được
thần chú này cũng đều quay về quy y, kính lễ mười phương ba đời thường
trụ Tam Bảo.
Quí vị có biết Tam bảo là gì không? Đó là Phật bảo,
Pháp bảo và Tăng bảo. Quí vị nên biết rằng, trên thế gian này Phật bảo
là cao quý nhất. Cũng thế, Pháp bảo và Tăng bảo là điều cao thượng và
quý báu nhất. Không những cao quý ở thế gian mà còn cao quý đối với
những cảnh giới xuất thế gian, cho đến đối với cõi trời phi tưởng phi
phi tưởng nữa. Không còn có gì cao quý hơn Tam bảo trong Phật pháp nữa.
Trong mười pháp giới thì cảnh giới Phật là cao nhất. Thế nên chúng ta
cần phải cung kính quy ngưỡng và tín thọ nơi Tam bảo cao quý, phát khởi
tín tâm kiên cố và thâm sâu, không một mảy may nghi ngờ.
Có người sẽ
hỏi: Quy y Tam bảo sẽ có lợi ích gì? Tối thiểu nhất là khi quí vị quy y
Phật rồi thì đời đời kiếp kiếp không còn đọa vào địa ngục nữa; khi quí
vị quy y Pháp rồi thì đời đời kiếp kiếp không còn đọa vào hàng ngạ quỷ
(quỷ đói) nữa; khi quí vị quy y Tăng rồi thì quí vị không còn bị đọa làm
loài súc sinh nữa. Đây là những đạo lý căn bản của việc quy y Tam bảo.
Nhưng
khi đã quy y rồi, quí vị phải tự nguyện và tinh tấn thực hành các việc
lành, tương ứng với lời dạy của đức Phật thì mới xứng đáng gọi là quy y.
Nếu quí vị vẫn còn giữ nguyên các tập khí ngày trước như sát sanh, trộm
cắp, tà hạnh dâm dục, nói dối, nghiện ngập và làm mọi điều mình thích
để thỏa mãn ngũ dục thì quí vị không thể nào tránh khỏi đọa vào 3 đường
ác (ngạ quỷ, địa ngục, súc sinh). Bở vì trong Phật pháp không có sự nhân
nhượng. Quí vị không thể nói: “Tôi đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y
Tăng rồi, nên tôi sẽ không bao giờ bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh nữa. Vậy nên tôi có quyền làm điều gì tôi muốn…”
Quí vị phải
thay đổi, chuyển hóa mọi tập khí xấu của mình và tích cực thực hành
những việc thiện, dứt khoát không bao giờ làm những việc ác nữa. Nếu quí
vị còn tiếp tục làm những việc xấu ác, thì quí vị sẽ bị đọa ngay vào
địa ngục.
Đạo Phật không giống như ngoại đạo. Họ tuyên bố rằng:
“Quan trọng nhất là niềm tin. Nếu có niềm tin thì dù có làm việc ác,
cũng có thể vào được thiên đường. Còn ngược lại, nếu ai thiếu lòng tin,
dù có gắng sức làm việc phúc đức, thì cũng sẽ rơi vào hỏa ngục”.
Nếu
quí vị tin vào đức Phật mà vẫn tạo các nghiệp ác thì nhất định quí vị
sẽ bị đọa vào địa ngục. Dù quí vị không tin vào đức Phật, mà vẫn gắng
sức làm việc phước thiện thì quí vị vẫn được lên thiên đàng. Phật pháp
không bao giờ mê hoặc con người bằng cách nói: “Nếu quí vị tin vào đức
Phật, thì mọi điều sẽ được như ý.” Ngược lại, nếu quí vị tin vào đức
Phật mà vẫn không chịu từ bỏ các việc ác thì quí vị vẫn phải bị đọa vào
địa ngục.
“Được rồi”. Quí vị lại thắc mắc: “Nếu đã tin Phật rồi mà cũng đọa vào địa ngục như không tin, thì tại sao phải quy y Tam bảo?”
Chân
chính quy y Tam bảo có nghĩa là phải từ bỏ việc ác, quay về đường
thiện, sửa đổi mọi lỗi lầm. Như một người được khai sinh lại với tên
mới, từ đây chỉ làm thuần túy những việc lành. Không làm những việc xấu
ác nữa. Như thế mới đạt được lợi ích thiết thực. Chính vì vậy mà câu
chú: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có nghĩa là: “Quy y Tam bảo vô
cùng vô tận trong khắp mười phương”.
Khi quí vị trì niệm chú này,
cũng có thể giúp tiêu trừ được những ách nạn cho quí vị. Lúc gặp tai
chướng, quí vị hay thường trì niệm: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da thì
tai chướng ấy liền được tiêu trừ. Tai nạn lớn sẽ biến thành tai nạn
nhỏ, và nếu gặp tai nạn nhỏ thì cũng sẽ được tiêu sạch. Chú này được gọi
là “Tiêu tai pháp”, là một trong năm bộ chú hộ ma.
Nam mô hắc ra
đát na đá ra dạ da cũng còn được gọi là “Tăng ích pháp”. Nghĩa là từ
trước đến nay quí vị đã từng gieo trồng nhiều thiện căn, và vẫn thường
trì tụng chú này, thì thiện căn của quí vị sẽ tăng trưởng thêm gấp nhiều
lần, lợi lạc không kể xiết. Nên chú này được gọi là “Tăng ích pháp”.
Quí
vị có thể niệm toàn bộ chú Đại Bi, hoặc chỉ cần niệm câu chú đầu tiên
này thôi: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da là “Thành tựu pháp”, bất luận
quí vị muốn điều gì, thì sở nguyện sở cầu của quí vị đều được thành tựu
như ý muốn. Nếu quí vị không có con trai mà muốn cầu sinh con trai, hay
niệm Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da sẽ sinh được con trai. Nhưng quí
vị phải trì niệm với tâm trí thành, không phải chỉ niệm một hai ngày rồi
thôI, mà phải niệm liên tục ít nhất là trong ba năm. Nếu quí vị không
có được bạn tốt, mà muốn gặp được một người, hay niệm Nam mô hắc ra đát
na đá ra dạ da thì liền gặp được ngay bạn lành. Nếu quí vị trì niệm được
toàn thể bài chú Đại Bi thì quá tốt, nếu không chỉ cần niệm câu đầu
tiên Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da, cũng sẽ thành tựu những công đức
không thể nghĩ bàn.
Câu chú này cũng còn được gọi là “Hàng phục
pháp”. Năng lực của câu chú đó có thể hàng phục thiên ma, chế phục ngoại
đạo khi nó nghe đến câu chú này.
Tuy vậy, câu chú này không phải
là “Câu triệu pháp”. Khi quí vị trì niệm một câu chú thuộc trong “Câu
triệu pháp” thì tất cả các loại yêu ma quỷ quái khắp nơi đều đến trình
diện và có thể bắt giữ, hoặc sai khiến được chúng.
Vậy nên, câu
chú Nam mô hắc ra đát ra đá ra dạ da này có công năng rất mạnh, không
thể suy lường được. Nếu nói chi tiết, thì không thể nào cùng tận được.
Tóm
lại, trong câu Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da, thì Nam mô có nghĩa là
“quy mạng kính đầu”. Hắc ra đát na là “bảo”. Đá ra dạ có nghĩa là
“Tam”. Da nghĩa là “Lễ”.
Nghĩa toàn câu là: “Xin đem hết thân,
tâm, tính mạng của mình quy y và kính lễ Tam Bảo vô tận vô biên trong
khắp cả mười phương, suốt cả ba đời”. Chúng ta phải cúi đầu đảnh lễ
thường trụ Tam bảo.
Vì sao gọi là vô tận vô biên? Vì chư Phật
trong thời quá khứ là vô cùng vô tận. Chư Phật trong thời hiện tại là vô
cùng vô tận. Chư Phật trong thời vị lai là vô cùng vô tận. Cho nên Tam
bảo là vô biên vô tận.
2. Nam mô a rị da
Nam mô như đã giảng ở trên, nghĩa là “đem hết thân tâm, tánh mạng quy y và kính lễ, học tập chư Phật và chư Bồ – tát”.
A
rị có nghĩa là “Thánh giả”. Có nghĩa là người xa lìa tất cả các ác
pháp. Nên Nam mô A rị da có nghĩa là kính lễ các bậc Thánh giả, người đã
xa lìa tất cả các pháp bất thiện.
3. Bà lô yết đế thước bát ra da
Bà
lô yết đế có nghĩa là “quán” trong danh hiệu Quán Thế Âm Bồ – tát. Cũng
được dịch là “quang” từ danh hiệu Vairocana (Tỳ – lô – giá – na) nghĩa
là Quang Minh Biến Chiếu – hào quang chiếu khắp mọi nơi. Còn được dịch
là: “Sở quán sát” nghĩa là cảnh giới được quán chiếu, được quán sát đến.
Thước bát ra da có nghĩa là “tự tại”.
Ý
nghĩa toàn câu là quán chiếu quán sát một cách rộng khắp và tự tại. Đó
chính là ý nghĩa của danh hiệu Bồ – tát Quán Tự Tại, Bồ – tát Quán Thế
Âm. Có nghĩa là quan sát, lắng nghe âm thanh ở cõi thế gian để cứu độ
một cách tự tại.
4. Bồ đề tát đỏa bà da
Mọi người đều biết Bồ đề xuất phát từ tiếng Phạn là Bodhi. Có nghĩa là Giác.
Tát đỏa có nghĩa là “độ” là vượt qua (bể khổ) cũng như đưa người khác vượt qua (bể khổ) đến bờ giải thoát.
Bồ
Đề tát đỏa bà da có nghĩa là một vị Bồ – tát đã tự giác ngộ giải thoát
và giúp cho mọi chúng sinh được giác ngộ giải thoát như mình.
Bà da có nghĩa là “đảnh lễ”.
Da
có nghĩa là khấu đầu đảnh lễ. Cúi đầu đảnh lễ ai? Đảnh lễ các vị Bồ –
tát đã tự giác ngộ giải thoát cho chính mình rồi, còn giúp cho người
khác được giác ngộ giải thoát.
Câu thần chú này là muốn nhắc đến Bồ –
tát Bất Không Quyến Sách áp đại binh. Nghĩa là khi quí vị tụng câu thần
chú này thì Bồ – tát Bất Không Quyến Sách đem binh tướng của cõi trời
đến để hộ trì cho quí vị.
5. Ma ha tát đỏa bà ha
Ma – ha có 3 nghĩa: Đại: lớn; Đa: nhiều; và Thắng: hoàn hảo.
Ma – ha với nghĩa là Đại: tức chỉ cho người phát tâm bồ đề rộng lớn.
Ma – ha với nghĩa là Đa: tức chỉ cho số lượng. Có rất nhiều người phát tâm bồ đề.
Ma
– ha với nghĩa là Thắng: tức nói đến những người đã phát tâm bồ đề rộng
lớn đều đạt đến chỗ thành tựu viên mãn, được nhiều lợi lạc rất thù
thắng.
Tát – đỏa nghĩa của chữ Tát – đỏa trong câu chú này không
giống như nghĩa trong câu trên. Trong câu chú trên, Tát – đỏa có nghĩa
là “độ” – vượt qua bờ bên kia. Có nghĩa là giải thoát. Còn trong câu chú
này. Tát – đỏa có nghĩa là “Dõng mãnh giả” là người can đảm, không sợ
hãi. Cũng có nghĩa là “Tinh tấn giả”, là người tu hành rất siêng năng.
Bà
– Da Hán dịch là “Hướng tha đảnh lễ” nghĩa là: “Con xin đê đầu đảnh lễ
các vị đại Bồ – tát, là những người rất dõng mãnh, rất tinh tấn, không
bao giờ sợ hãi, và nguyện phát tâm bồ đề trước chư vị Bồ – tát này.”
Các
vị đại Bồ – tát đã tự giác ngộ, giải thoát cho chính mình rồi còn phát
nguyện giúp cho vô số chúng sanh khác được giác ngộ và giải thoát như
mình.
6. Ma ha ca lô ni ca da
Ma – ha có 3 nghĩa: lớn, nhiều và thù thắng như trên đã giảng.
Ca – lô Hán dịch là “Bi”.
Ni – ca nghĩa là “Tâm”.
Hợp lại, Ma ha ca lô ni ca có nghĩa là “Tâm đại bi”.
Da
có nghĩa là đảnh lễ, như đã giảng ở trên. Toàn câu chú Ma ha ca lô ni
ca da có nghĩa là: “Cúi đầu đảnh lễ thần chú Đại bi tâm Đà – la – ni.”
7. Án
Án nghĩa là “Bổn mẫu”, là “Chú mẫu” mẹ của tất cả mọi thần chú; cũng chính là “Phật mẫu” mẹ của tất cả chư Phật.
Mẹ
của chư Phật có nghĩa là mẹ của nguồn tâm trong mọi loài chúng sinh, vì
nguồn tâm của chúng sinh vốn có sẵn mọi trí tuệ, thường xuất sinh các
pháp lành, nên gọi là “Bổn mẫu”.
Thông qua năng lực của thần chú mà mười pháp muôn được hiển bày.
1. Pháp môn thứ nhất là “Tự”: là đầu nguồn, làm xuất sinh mọi chủng tự.
2. Thứ hai là “Cú”. Trong kinh văn hoặc trong thần chú, “Cú” có nghĩa là một câu.
3. Thứ ba là “Quán”: là quán chiếu, quán sát, vận dụng năng lực quán chiếu mà hành trì.
4.
Thứ tư là “Trí”: là trí tuệ, dùng thanh gươm trí tuệ để cắt đứt tất cả
phiền não. Trí tuệ tức là pháp môn lưu xuất từ Bát Nhã Ba La Mật, đó là
trí tuệ viên mãn nhất. Còn “quán” là lưu xuất từ pháp môn Thiền định Ba
La Mật.
5. Thứ năm là “Hành”: nghĩa là tu tập, nương theo giáo pháp mà hành trì.
6. Thứ sáu là “Nguyện”: nghĩa là cần phải phát nguyện, nương theo giáo pháp chân chính mà tu hành.
7.
Thứ bảy là “Giáo”: nghĩa là y cứ theo giáo pháp chân chính mà tu hành.
Nếu quí vị không nương theo lời dạy của đức Phật mà tu hành, thì dù quí
vị có tu hành đến nhiều kiếp như số cát sông Hằng đi nữa thì vẫn không
có kết quả gì cả. Cũng như thể nấu cát mà mong thành cơm vậy.
Tuy
nhiên, để có thể tu tập xứng hợp với giáo lý chân chính của đức Phật thì
trước hết, quí vị phải thông hiểu về giáo pháp đó một cách tường tận.
8.
Thứ tám là “Lý”: nghĩa là đạo lý. Nếu quí vị có thể nhập được vào Phật
pháp vi diệu thì mới có được sự hiểu biết thông đạt về giáo pháp ấy. Nếu
quí vị không khế hội được diệu pháp này, thì quí vị chỉ là người tu tập
trong sự mù quáng. Dù quí vị có tu hành bao lâu đi nữa, cũng không đạt
được sự thành tựu.
9. Thứ chín là “Nhân”: Trong đời này quí vị
phải gieo trồng những nhân thù thắng, nhân tốt lành, nhân thanh tịnh,
thì quá khứ quí vị sẽ gặt được quả thù thắng, quả vi diệu và quả thanh
tịnh.
10. Thứ mười là “Quả”: Quả tương ứng sẽ đạt được sau khi đã gieo trồng nhân. Đó là diệu quả, quả vị giác ngộ tối thượng.
Như
vậy từ chữ án, xuất sinh ra mười pháp môn vi diệu. Nên khi quí vị trì
niệm thần Chú Đại Bi, niệm đến chữ án thì tất cả các loài quỷ thần đều
chắp tay vô cùng cung kính, không dám tỏ ra khinh suất hoặc lơ là khi
nghe hành giả trì tụng thần Chú Đại Bi. Chữ án có một năng lực mạnh mẽ
mà đến nỗi khiến cho các loài ác quỷ, ác thần đều phải cung kính chấp
trì. Công năng của thần chú thật to lớn, thần lực thật không thể nghĩ
bàn.
8. Tát bàn ra phạt duệ
Tát bàn ra, Hán
dịch là “tự tại”. Nghĩa là khi quí vị trì tụng thần chú này, thì Tứ đại
thiên vương đều đến làm Hộ pháp cho quí vị.
Phạt duệ, Hán dịch là Thế tôn, cũng dịch là Thánh tôn.
Nguyên câu chú này có nghĩa là Tự tại Thế tôn. Tự tại Thánh tôn, tức là Đức Phật tự tại, ý là xưng tán Phật bảo.
9. Số đát na đát tả
Chữ Số có hai âm là Shù và Shùo. Người ta thường niệm là “Shù”.
Số
Đát Na có nghĩa là “pháp” (Dharma). Pháp gì? Pháp này còn gọi là “Diệu
thắng pháp”. Cũng gọi là “Cao thượng thắng sinh”. Có nghĩa là không có
gì vượt trội hơn pháp này nữa. Thắng sinh có nghĩa là từ pháp này xuất
sinh ra năng lực rất thù thắng.
Còn một cách dịch khác của chữ Số là
“Diệu sinh” hoặc “Thắng thân”. Diệu sinh tức là vượt lên trên mọi sự vi
diệu. Thắng thân nghĩa là thể của pháp ấy rất thù thắng.
Còn có
một cách dịch khác nữa của chữ Số, là “Tối thượng thừa địa”. Nghĩa là
cảnh giới của hành giả sẽ trải qua sau khi chứng được Thập địa của hàng
Bồ – tát.
Đát Na là biểu tượng của Pháp bảo.
Đát Tả là biểu tượng cho Tăng bảo.
Cho
nên toàn thể câu chú án tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tả là biểu
tượng cho Tam bảo. Có nghĩa là chúng ta phải nên ngưỡng nguyện đến sự
gia hộ của Tam bảo. Nên khi trì niệm đến câu thần chú này, có nghĩa là
thỉnh cầu, ngưỡng nguyện đến lực gia trì của Tam bảo.
Đát tả còn
có nghĩa là dùng giáo pháp để răn dạy các loài quỷ thần và dùng thần chú
để triệu tập quỷ thần đến mà dạy bảo chúng theo tinh thần chánh pháp.
10. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a lị da
Xưa
nay dường như quí vị luôn luôn Nam mô với một người nào khác chứ chưa
bao giờ Nam mô với chính mình. Người tu hành không cần phải đi Nam mô
một khách thể nào khác mà phải Nam mô ngay với chính mình.
Nam mô có nghĩa là tôi, chính tôi quay trở về quy y với Tam bảo vô cùng vô tận khắp mười phương.
Nam
mô còn có nghĩa là đem tự ngã của chính mình thể nhập trọn vẹn vào cả
pháp giới khắp cả mười phương. Tức là thể nhập vào Tam bảo vô cùng vô
tận khắp cả mười phương.
Tất kiến lật có nghĩa là “hoàn toàn”. Tức là đem hết toàn tâm, toàn ý để quy y và đảnh lễ Tam bảo.
Đỏa
y mông có nghĩa là “Ngã”. Đó chính là cái Ngã của Vô Ngã. Nên quí vị
phải đem toàn tâm toàn ý đảnh lễ bản ngã của chính mình, nhưng đảnh lễ
cái ngã của vô ngã. Như thế có nghĩa là không có mình hay sao? Ví như
khi có người đánh quí vị, quí vị không cảm thấy đau; nếu họ mắng chửi,
quí vị không thấy khó chịu; nếu họ nhục mạ, quí vị thấy như thể không có
việc gì xảy ra. Quí vị không nhất thiết cần phải nhẫn nhục, vì nếu dùng
phép nhẫn nhục, là quí vị đã rơi vào “đệ nhị nghĩa” rồi. Trong trường
hợp này, quí vị không nhất thiết cần phải “nhẫn”, vì vốn không có một
bản ngã để dùng pháp nhân và không có một bản ngã để cho pháp nhẫn ấy
tác động tới. Có nghĩa là quí vị phải hành pháp nhẫn trong “vô nhẫn”.
Đó gọi là Ngã của vô ngã vậy.
A
lị da ở trên đã giảng qua, có nghĩa là “Thánh giả”. ở đây tức là phải
hết lòng đảnh lễ “cái ngã” ấy của Thánh giả. Vô lượng vô biên chư Bồ
Tát, hết thảy Thiên Long bát bộ đều phải đảnh lễ cái ngã trong vô ngã
của bậc Thánh giả. Cái ngã ấy bao trùm khắp vô lượng vô biên vũ trụ. Có
rất nhiều bậc Thánh giả. Họ là ai? Dưới đây, tôi sẽ giảng rõ.
11. Bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà
Bà lô kiết đế dịch là “Quán”.
Thất Phật ra dịch là “Tự tại” hoặc là thế âm. Âm thanh ở trong thế gian. Đây chính là Bồ – tát Quán Thế Âm.
Bà
lô kiết đế thất Phật ra là Quán Thế Âm, cũng chính là Quán Tự Tại. Hai
danh hiệu này không nhất định phải là Bồ – tát Quán Thế Âm mới được gọi
là Quán Tự Tại hay Quán Thế Âm, mà nếu khi quí vị đã đạt được tự tại
rồi, thì quí vị chính là Bồ – tát Quán Tự Tại. Khi quí vị có được năng
lực cứu độ tất cả mọi loài chúng sinh, thì quí vị chính là Bồ Tát Quán
Thế Âm. Vì vậy, một khi quí vị đã thể nhập và vận dụng trọn vẹn pháp này
rồi thì chính quí vị là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Nếu tôi đạt
được tự tại trong việc vận dụng pháp này thì chính tôi cũng là hóa thân
của Bồ – tát Quán Thế Âm.
Lăng đà bà dịch là “hải đảo”, chỉ cho
núi Phổ Đà (Potala), nơi Bồ – tát Quán Thế Âm thường thị hiện. Có sách
nói núi Phổ Đà ở nước Trung Hoa. Phổ Đà có nghĩa là “hoa trắng nhỏ” vì
nơi núi ấy có loài hoa trắng nở rất nhiều. Trên núi có một cung điện
được kiến tạo ở trong hang đá gọi là “Cung Từ Bi”, đó là nơi Bồ Tát Quan
Thế Âm thường thị hiện. Nơi đó được trang hoàng bằng bảy thứ châu báu:
vàng, bạc, xà cừ, pha lê, trân châu, ngọc bích, mã não. Nhưng không phải
ai cũng đến được nơi cung điện này.
Bà lô kiết đế thất Phật ra là vị Bồ – tát có đầy tâm nguyện đại từ bi.
Lăng đà bà là cung điện Từ Bi, nơi Bồ – tát Quan Thế Âm thường thị hiện.
12. Nam mô na ra cẩn trì
Trong câu chú này, Nam mô vẫn có nghĩa là “quy y” và “quy mạng kính đầu”.
Na ra dịch nghĩa là “Hiền” – bậc hiền giả, chỉ cho hàng Bồ Tát.
Cẩn
trì dịch là “ái”, có nghĩa là tình thương yêu. Trong ý niệm lòng Từ Bi
bảo hộ, che chở cho mọi loài. Thế nên lòng từ bi của bậc Hiền giả (Bồ –
tát) thường đem đến sự bao bọc, che chở cho chúng sinh. Trước đây tôi đã
giảng về 10 loại tâm được đề cập trong Kinh Đại Bi Tâm Đà – la – ni.
Quí vị nên y cứ theo mười loại tâm này mà công phu tu tập.
Na ra
cẩn trì, Hán dịch là “Hiền ái thiện hộ” có liên quan đến nghĩa thứ nhất,
nghĩa là thứ 6 và nghĩa thứ 10 trong 10 loại Tâm: Đó chính là Tâm Đại
Bi, Tâm Cung Kính và Tâm Vô Thượng bồ đề.
Câu chú này đại biểu cho 3 loại tâm như trên.
13. Hê rị ma ha bàn đa sa mế
Hê
rị có nghĩa là “Tâm”. Tâm này có ý nghĩa gì trong 10 nghĩa? Nghĩa thứ 4
là vô nhiễm trước tâm. Tâm này giúp cho quí vị duy trì bản tâm thanh
tịnh của mình. Khi quí vị khởi tâm niệm tham, sân, si, mạn, nghi… thì
tâm quí vị liền bị ô nhiễm, không còn thanh tịnh nữa. Khi tâm quí vị
không mong khởi những niệm ô nhiễm ấy, thì tâm quí vị được thanh tịnh.
Ma ha có nghĩa là “Đại”, cũng có nghĩa là “Trường”.
Bàn
đà sa mế nghĩa là sao? Nếu tôi không nói, chắc chắn quí vị chẳng thể
nào biết được. Nên quí vị muốn biết thì trước tiên tôi phải giảng. Lúc
đó quí vị mới hiểu được. Quí vị mới nói rằng: “Thì ra ý nghĩa của cân
chú ấy là như thế”. Bàn đà sa mế có nghĩa là “đại quang minh” nghĩa là
hào quang rực rỡ chiếu khắp.
Bàn đà sa mế lại còn được dịch là “Trường chiếu mệnh” nghĩa là ánh sáng thường chiếu soi rộng khắp mọi nơi.
Nguyên
câu Hê rị ma ha bàn đa sa mế có nghĩa là “Tâm đại quang minh”. Nghĩa là
ánh sáng của tâm lực, quang minh của tâm lực thường chiếu rộng khắp,
mãi mãi siêu việt cả không gian vô cùng, thời gian vô tận; từ một vi
trần cho đến vô cùng vô tận thế giới đều có sự hiện hữu của ánh sáng ấy.
Quí vị sẽ nói: “à, cái đại quang minh của tâm ấy, tôi đã nghe trong kinh giảng nói rất nhiều rồi, và…”
Vâng,
nhưng trừ phi quí vị không nghe tôi giảng giải thần Chú Đại Bi thì quí
vị không thể nào biết được. Tôi sẽ giảng cho quí vị rõ. Thật là khó gặp
được người nào có thể giảng giải về Chú Đại Bi một cách rõ ràng tường
tận. Thực vậy, hoàn toàn thực tình mà nói, không mấy người thể nhập được
rốt ráo ý nghĩa của thần chú Đại Bi hoặc là chuyển được ý nghĩa của
thần chú.
Sẽ có người hỏi: “Thế làm sao Sư phụ biết được?”
Quí
vị khỏi cần phải hỏi tôi. Vì tôi đã không hỏi thì thôi, chứ quí vị đừng
nên hỏi tôi tại sao mà tôi biết được. Dĩ nhiên là tôi phải biết. Nếu
tôi không biết, tôi không thể nào giảng giải cho quí vị nghe được. Vì
thế đừng nên hỏi tại sao tôi lại biết.
Thay vì quí vị hỏi tại sao
tôi biết, thì quí vị hãy quay trở lại hỏi chính mình. Tại sao mình lại
không biết? Nếu quí vị biết được lý do tại sao mình không biết, thì quí
vị sẽ rõ được tại sao tôi biết. Trái lại, nếu quí vị không thể nào rõ
được tại sao quí vị không biết, thì quí vị cũng không thể nào rõ được lý
do tại sao tôi biết. Đó chính là điều làm nên sự kỳ diệu vậy.
Chẳng
hạn có người đã hỏi tôi rằng: “Tại sao Thầy làm người xuất gia?” Tôi đã
không trả lời câu hỏi đó mà hỏi lại rằng: “Tại sao anh lại không làm
người xuất gia? Nếu anh biết được lý do vì sao anh không xuất gia, thì
anh sẽ hiểu được vì sao tôi lại xuất gia”. Hỏi về đạo lý trong Phật pháp
cũng như vậy. Thay vì quí vị hỏi: “Làm sao mà tôi hiểu được đạo lý
ấy?”, thì quí vị hãy tự hỏi lại chính mình tại sao mình không hiểu được.
Khi quí vị đã hiểu được tại sao mình không biết thì quí vị sẽ hiểu được
tại sao tôi lại biết được đạo lý ấy. Nay quí vị đều là những người có
nhiều thiện căn nên được dự pháp hội giảng chú Đại Bi. Vậy quí vị phải
nên hộ trì, bảo trọng cho thiện căn của mình. Tự mình phải khéo vận dụng
thiện căn ấy để tu học và liễu nhập Phật pháp, đừng để hoài phí một
phút giây nào cả.
Hiện tại chúng ta đang sống vào thời mạt pháp.
Chư Phật và Bồ – tát rất ít thị hiện ở thế gian. Thời gian này, lòng
người đang tiến dần đến chỗ hoang liêu, điêu tàn, không dễ gì gặp được
chánh pháp, cũng không dễ gì gặp được bậc chân thiện tri thức.
Có
lần tôi bảo các đệ tử rằng: “ở Đài Loan có mở Đại giới đàn, năm huynh đệ
các con nên đến đó cầu thỉnh để được thọ giới pháp”. Các đệ tử gửi thư
cho tôi biết nhiều người ở Đài Loan nói với họ rằng: “Chẳng cần phải tu
hành gì cũng có thể thành tựu đạo nghiệp”. Các đệ tử của tôi trả lời
rằng: “Chúng tôi cũng là những con người như những con người khác, nếu
không chịu tu hành thì làm sao có thể tựu thành Phật đạo? Nếu không công
phu hành trì thì làm sao liễu ngộ được chánh pháp”. Nếu quí vị nói rằng
không cần phải dụng công tu tập mà cũng thành Phật, liễu đạo thì trước
đây đức Phật chẳng cần vào núi Tuyết tu suốt sáu năm làm gì, rồi sau đó
đến ngồi dưới cội bồ đề tinh chuyên thiền định suốt 49 ngày, đến khi sao
Mai vừa mọc thì Ngài tựu thành chánh giác.
Đức Phật còn phải tu
hành mới thành tựu chánh giác. Còn mỗi chúng sinh như chúng ta, nếu
không tinh tấn tu hành thì làm sao có thể thành Phật được? Ai ai cũng
đều biết phải nhờ vào tu hành mới đạt được Phật quả, nhưng người chân
thật tu hành thì rất ít; và ai cũng đều biết nếu không chịu tu hành thì
đều có thể bị đọa vào địa ngục, nhưng người không chịu tu hành thì không
sao kể xiết. Nghiệp lực thế gian thật là không thể nghĩ bàn!
Quí
Phật tử! Sống trong thời mạt pháp mà có được điều kiện để nghiên cứu
Phật pháp thì nên dõng mãnh tinh tấn lên, không nên biếng nhác, hãy
siêng năng công phu, tinh cần đạo nghiệp mới mong có ngày thành tựu. Nếu
không tinh tấn dõng mãnh mà mong thành tựu đạo nghiệp thì không thể nào
có được.Vì thế nên quí vị đừng ngại gian nan, khổ nhọc, chướng duyên,
tai ách… mọi thứ nên quên. Phải đánh trống dõng mãnh lên để cho tinh
thần phấn chấn, chỉ một hướng thẳng đến công phu mới mong có ngày thành
tựu quả vị Phật.
Tôi đang nói về sự vi diệu của Phật pháp. Nếu quí
vị không phát khởi niềm tin vào trí tuệ siêu việt thì đạo lý này đối
với quí vị cũng chẳng có lợi ích gì. Quí vị có thể thâm nhập Phật pháp
từ mọi sinh hoạt trong cuộc sống, từ mỗi bước chân lặng lẽ của thời gian
trong toàn thể pháp giới…
Trong Phật pháp, điều gì quí vị cũng
muốn diễn bày cho rõ ràng minh bạch thì thường bị đánh mất những nghĩa
lý sâu mầu vi diệu. Nay tôi dù có trình bày hết về diệu lý của Phật
pháp, nhưng nếu quí vị không tin sâu và không hành trì thì điều tôi
giảng không còn là diệu pháp nữa. Hơn nữa sự hành trì cần phải thường
xuyên vào mọi lúc, mọi nơi với tinh thần tinh tấn, không lui sụt, không
biếng nhác. Đây là điều khẩn thiết nhất. Nếu quí vị mọi thời, mọi lúc
đều hướng về phía trước mà nỗ lực công phu thì nhất định một ngày kia sẽ
trực nhận ra “mặt mày xưa cũ” của chính mình.
Bàn đà sa mế dịch
nghĩa là “đại quang minh” hay “trường chiếu minh”, tiêu biểu cho nghĩa
thứ năm trong mười nghĩa của tâm, đó là “quán tâm không”. Thông qua
“quán tâm không”, hành giả mới có được trí tuệ. Với trí tuệ, hành giả
mới có được quang minh. Có được quang minh, mới tỏa chiếu, soi sáng khắp
mọi pháp giới được. Tức là không còn tối tăm, mê muội, tức là không còn
vô minh.
Sao gọi là “vô minh”, vì tâm của quí vị không có được sự
tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới, do vì quí vị không có được “đại
quang minh”. Nếu quí vị có được “đại quang minh” thì tâm quí vị liền có
được sự tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới, có nghĩa là quí vị đã
chuyển hóa được vô minh. Một khi vô minh đã bị chuyển hóa sạch rồi, thì
pháp tánh hiển hiện, đây chính là trí tuệ chân thật của quí vị.
Thuở
xưa vào triều đại nhà Lương ở Trung Hoa có Thiền sư Chí Công là một bậc
Đại đức cao tăng. Không sử sách nào ghi lại song thân của Thiền sư là
ai. Người ta thường kể với nhau rằng: Một hôm nọ, có người phụ nữ nghe
tiếng khóc của một hài nhi trên cành cây cao. Cô ta trèo lên, thấy một
hài nhi nằm trong tổ chim ưng, bèn đem hài nhi về nuôi. Tuy thân thể hài
nhi này hoàn toàn giống như người nhưng những móng tay, móng chân giống
như móng chim ưng. Khi trưởng thành, xuất gia tu đạo, chứng được ngũ
nhãn lục thông. Không biết cha mẹ Ngài là ai, chỉ biết Ngài sinh trong
tổ chim ưng nên mọi người đều phỏng đoán Ngài được sinh ra từ trứng chim
ưng vậy.
Thời ấy, vua Lương Vũ Đế cũng như mọi người đều rất kính
trọng và tin phục các Thiền sư. Bất luận khi họ gặp những sự kịên gì
trong đời sống, như sinh con, cha mẹ qua đời, cưới hỏi… họ đều cung
thỉnh các Thiền sư đến để tụng kinh chú nguyện.
Một hôm, có một
gia đình giàu có thỉnh Thiền sư đến tụng kinh chú nguyện nhân dịp đám
cưới người con gái của họ, đồng thời thỉnh Thiền sư ban cho vài lời chúc
mừng để mong rằng trong tương lai, việc hôn nhân đều được tốt lành như
ý. Thiền sư Chí Công đến nhà ấy, khi nhìn thấy cô dâu chú rể, Ngài liền
nói:
“Thật cổ quái, thật cổ quái!”
“Cháu cưới bà nội”
“Thật
cổ quái” nghĩa là xưa nay chưa từng có một việc như vậy. Đây không phải
là chuyện xưa nay thường xảy ra. Thật kỳ lạ khi nhìn một đứa cháu cưới
bà nội mình làm vợ. Trên thế gian này, nếu không thông đạt những nhân
duyên trong thời quá khứ thì không thể nào lý giải được những mối quan
hệ cha con, mẹ con, vợ chồng, anh em, bè bạn… của nhau. Vì sao? Vì mọi
người đều có thể là chồng hoặc vợ của nhau trong đời trước. Một người có
thể là cha hoặc là con của nhau trong nhiều đời trước. Hoặc một người
đều là mẹ và con gái của nhau trong đời trước. Ông nội của quí vị trong
đời trước lại kết hôn với cháu gái của quí vị trong đời này. Hoặc là bà
ngoại đời trước lại tái sinh làm con gái của quí vị. Tất cả mọi việc đều
có thể xảy ra, và đều chịu sự biến hóa khôn lường.
Trong nhà này,
chuyện “cháu cưới bà nội” là do trước kia, khi bà nội sắp mất, bà trăn
trối lại với toàn gia quyến: “Con trai ta vừa mới cưới vợ và đã có con
nối dòng. Con gái ta cũng đã có chồng, ta không còn bận tâm gì nữa”. Bà
ta hoàn toàn thỏa mãn và đã gạt mọi sự bận tâm qua một bên, ngoại trừ
một điều: còn đứa cháu nội, “tương lai rồi sẽ ra sao? Ai sẽ chăm sóc nó?
Liệu người vợ của nó có đảm đang hay không? Ta không thể nào không lo
cho nó được!”
Bà nắm tay đứa cháu nội và qua đời. Người ta bảo
rằng nếu mọi việc đều toại nguyện, lúc lâm chung có được tâm trạng thơ
thới thì người chết sẽ nhắm mắt. Còn nếu không, thì người chết không
nhắm mắt được. Bà lão nói: “Bà rất lo lắng cho cháu, bà chết không nhắm
mắt được”. Nói xong, bà ra đi mà mắt vẫn mở. Thần thức của bà vẫn còn lo
âu. Khi đến gặp Diêm vương, bà ta than khóc, thưa rằng:
– Tôi còn đứa cháu nội, không ai chăm sóc nó.
Diêm vương đáp:
– Được rồi, bà hay trở lại dương gian chăm sóc cho nó
Nói
xong, bà ta được đầu thai trở lại trong cõi trần. Khi đến tuổi thành
hôn, bà ta lấy người cháu nội trước đây của bà ta. Vì vậy nên nói “cháu
lấy bà nội”. Quí vị thấy có phải là cổ quái thật không?
Chỉ vì một
niệm ái luyến không buông xả được mà tạo nên biết bao duyên nghiệp buộc
ràng về sau. Bà ta chỉ vì bận tâm vì đứa cháu, mà về sau phải làm vợ
cho nó. Quí vị thử nghĩ lại xem, đây chẳng phải là chuyện cổ quái hay
sao?
Quí vị sẽ hỏi: “Làm sao mà Thiền sư Chí Công biết được điều
ấy?” Thiền sư biết được là vì Ngài đã đạt được ngũ nhãn và lục thông.
Nên chỉ cần nhìn qua, là Ngài liền biết được ngay kiếp trước của cô dâu
vốn là bà nội của chú rể. Chỉ vì bà nội đã khởi một niệm ái luyến sai
lầm nên nay phải đầu thai trở lại làm người, và làm vợ của đứa cháu nội
mình. Một niệm lành còn như thế huống gì là niệm ác, hoặc khởi trùng
trùng niệm ác thì luân hồi trong tam đồ lục đạo biết bao giờ dứt, biết
bao giờ mới mong ra khỏi.
Thiền sư lại nhìn trong số khách đến dự đám cưới, có một bé gái đang ăn thịt, Ngài nói: “Con gái ăn thịt mẹ”.
Vì
miếng thịt mà em bé đang ăn là thịt dê, con dê này vốn là mẹ của em bé
đầu thai lại. Kiếp trước bà ta đã tạo nghiệp ác quá lớn nên đã phải đọa
làm dê. Nay lại bị chính con mình ăn thịt. Vòng oán nghiệp khởi dậy do
vô minh của chúng sinh không lời nào kể hết được. Chư Bồ Tát thương xót,
phát tâm cứu độ chúng sinh là do điểm này.
Khi Thiền sư nhìn các nhạc công, thấy có vị đang đánh trống. Ngài nói:
“Con trai đang đánh bố”.
Vì
cái trống ấy bịt bằng da lừa. Con lừa này chính là cha của anh nhạc
công đầu thai vào. Con lừa này bị giết thịt, lấy da làm mặt trống. Thật
là đau thương cho kiếp luân hồi.
Ngài nhình quanh đám cưới, nói tiếp:
“Heo dê ngồi ở trên”
Ngài
thấy có vô số loài heo, cừu, dê, gà được đầu thai trở lại làm người,
nay họ đều là bà con thân quyến của nhau nên cũng đến dự đám cưới này.
Nhìn trong bếp, Ngài nói:
“Lục thân bị nấu trong nồi”.
Chính
là cha mẹ, anh em, bà con, bè bạn do kiếp trước đã sát sinh heo, gà quá
nhiều để ăn, nay lại bị đọa làm heo, dê, gà trở lại; rồi bị giết thịt,
bỏ vào nồi chiên nấu trở lại.
Ngài nói tiếp:
“Mọi người đều vui vẻ chúc mừng nhau”
Mọi người đến dự đám cưới đều rất vui vẻ mà chúc tụng nhau. Ngài tự than với mình rằng:
“Trông thấy cảnh ấy mà lòng đau xót, ta biết đó chính là những oán nghiệp xoay vần vay trả, tạo nên nỗi khổ chất chồng”.
Thiền
sư Chí Công biết rõ nhân quả khi nhìn vào gia đình này. Làm sao chúng
ta có thể hiểu được hết chuỗi nhân quả của từng gia đình với trùng trùng
khác biệt nhau ra sao. Cho nên những người tu đạo phải rất cẩn trọng
trong khi tu nhân, vì khi nhân duyên chín mùi sẽ gặt lấy quả tương ứng
với nhân đã gieo. Tại sao người lại trở lại làm người? Là để trả nợ, trả
những món nợ nhân quả ở thế gian. Nếu quí vị không tìm cách trả món nợ
này thì nợ nần vẫn tiếp tục, như món nợ đã vay của ngân hàng vậy.
Tôi
nhớ một câu chuyện này nữa. Có một gia đình nuôi một con lừa, dùng nó
để kéo cối xay và chuyên chở. Người chủ thấy lừa quá chậm chạp nên
thường dùng roi đánh nó để thúc giục. Con lừa làm việc miệt mài trong
cực nhọc cho đến khi chết. Nó được đầu thai làm người. Khi người chủ hay
đánh đập lừa chết, lại đầu thai làm một người phụ nữ. Khi cả hai người
này đến tuổi thành hôn thì họ cưới nhau.
Quí vị có biết cặp vợ
chồng này sống với nhau như thế nào không? Suốt ngày người chồng đánh
đập người vợ. Ông đánh vợ bất kỳ lúc nào, bất luận đang cầm vật gì trên
tay, cả lúc đang ăn cơm cũng đánh vợ bằng đũa. Ông ta vừa đánh vừa chửi,
cho dù người vợ chẳng làm điều gì sai trái.
Một hôm Thiền sư Chí Công đi qua nhà họ. Người phụ nữ bèn thưa với Ngài:
–
Chồng con ngày nào cũng đánh và chửi con qúa chừng mà con không biết
tại sao. Bạch Ngài, xin Ngài hãy dùng ngũ nhãn, lục thông bảo cho con
biết mối tương quan nhân quả của chúng con đời trước ra sao mà đời này
chồng con đánh đập và chửi mắng con hoài vậy?
Thiền sư Chí Công đáp:
–
Tôi sẽ nói rõ tương quan nhân quả của hai người cho mà nghe. Trong đời
trước, bà là một người đàn ông. Ngày nào bà cũng đánh đập chửi mắng con
lừa, thúc giục nó phải kéo cối xay bột.
Ông chủ ấy thường đánh con
lừa bằng cái chổi tre. Nay ông chủ được đầu thai lại làm người phụ nữ,
đó chính là bà. Còn con lừa thì được đầu thai làm người chồng. Nay ông
ta thường hay đánh đập chửi mắng bà cũng như kiếp trước bà đã thường
đánh chửi ông tức là con lừa vậy. Nay bà đã hiểu rõ nhân quả tương quan
với nhau rồi, tôi sẽ bày cho một cách để chấm dứt vòng oán nghiệp này.
Bà hãy cất giấu tất cả mọi dụng cụ trong nhà ngoại trừ cái chổi đuôi
ngựa (chổi dây). Khi người chồng thấy chẳng còn vật gì dùng để đánh cô,
anh ta sẽ cầm chổi dây này để đánh. Cứ để cho anh ta đánh vài trăm roi,
thì nợ cũ của bà mới được trả. Lúc đó, bà mới báo cho anh ta biết nhân
đời trước và quả đời sau báo ứng với nhau rất rõ ràng như tôi vừa giải
thích cho bà. Anh ta sẽ không còn đánh bà nữa.
Người phụ nữ làm
đúng như lời Thiền sư Chí Công chỉ dạy. Khi người chồng về đến nhà, ông
ta liền kiếm vật gì đó để đánh vợ. Chỉ còn thấy chiếc chổi đuôi ngựa,
ông ta cầm lấy và đánh. Thông thường như mọi khi, cô ta tìm cách chạy
trốn. Nhưng lần này cô ta kiên nhẫn ngồi đó chịu đòn cho đến khi ông
chồng ngừng tay.
Thấy lạ, ông ta hỏi tại sao bà không bỏ chạy. Cô
ta kể lại việc được Thiền sư Chí Công giải thích cặn kẽ tương quan nhân
quả của hai người. Ông chồng nghe xong ngẫm nghĩ: “Như thế thì từ nay ta
không nên đánh chửi cô ta nữa. Nếu còn đánh, thì kiếp sau cô ta sẽ đầu
thai trở lại rồi tìm ta để đánh chửi”. Từ đó ông chồng không còn đánh
mắng người vợ nữa.
Thế nên quí vị phải biết mọi người đều có sự
quan hệ với nhau tương ứng với nhân đã tạo. Quí vị chẳng thể nào biết
được trong đời trước, ai đã từng là mẹ, là anh, là cha hay là chị em của
mình. Cái nhân đã tạo ở đời trước sẽ tạo thành quả đời này và nhất định
có liên quan đến bà con quyến thuộc của mình. Nếu quí vị hiểu được đạo
lý nhân quả, thì quí vị có thể chuyển hóa, biến cải được nhân bằng cách
từ bỏ những việc ác.
Còn một chuyện nữa về Thiền sư Chí Công. Một
ngày Ngài ăn hai con chim bồ câu. Ngài rất thích món ăn này. Người đầu
bếp nghĩ rằng món thịt bồ câu chắc là rất ngon nên ngày nọ anh ta quyết
định nếm thử. Anh ta làm việc này với hai ý nghĩ: một mặt là muốn thử
xem thức ăn hôm nay mình làm có ngon hay không? một mặt khác anh ta nghĩ
rằng Ngài Chí Công ngày nào cũng thích ăn bồ câu, nhất định đây là một
món ăn rất ngon, nên muốn thưởng thức một chút rồi mới đem đến cho Thiền
sư dùng.
Khi người đầu bếp mang thức ăn đến. Ngài nhìn đĩa thức ăn và hỏi:
– Hôm nay có ai nếm trộm thức ăn này? Có phải chính anh không?
Người đầu bếp liền chối. Thiền sư liền bảo:
– Anh còn chối. Tôi sẽ cho anh thấy tận mắt ai là người nếm trộm. Hãy nhìn đây!
Ngài
liền ngồi ăn. Ăn hết hai con bồ câu rồi, Ngài liền há miệng rộng, trong
đó, một con bồ câu liền vẫy cánh bay ra còn con kia thì bị mất một
cánh, không thể bay lên được.
Thiền sư mới bảo:
– Anh thấy đó, nếu anh không nếm trộm thì tại sao con bồ câu này không thể bay được?
Chính là vì ông đã ăn hết một cánh của nó.
Chuyện
này làm cho anh đầu bếp biết Thiền sư Chí Công không phải là người
thường. Ngài chính là hóa thân của Bồ – tát. Thế nên Ngài có năng lực
biến những con bồ câu bị nấu thành thức ăn rồi thành bồ câu sống. Không
phải là Bồ – tát, không làm chuyện này được.
Thiền sư Chí Công còn
thường ăn một loại cá gọi là Tuệ Ngư. Cũng đem cá ra nấu nướng rồi Ngài
ăn từ đuôi lên đầu. Nhưng sau đó Ngài lại há miệng ra làm cá sống lại.
Vì vậy, những việc này là rất thường đối với cảnh giới của hàng Bồ –
tát. Thiền sư Chí Công là một vị Bồ – tát, nhưng không bao giờ Ngài nói:
“Các ngươi biết không, ta là một vị Bồ – tát, ta đang giáo hóa chúng
sanh, ta có đại nguyện này, hạnh nguyện kia…” Các vị không bao giờ mong
khởi ý niệm ấy. Cho nên chúng ta là hàng phàm phu, dù có thấy Chư Phật
hay Bồ – tát cũng không thể nào nhận biết được. Việc làm của Bồ – tát
cũng gần như hành xử của người thường, nhưng thực chất lại không giống
nhau. Là vì phàm phu khi hành động chỉ nghĩ đến lợi ích của chính mình,
không nghĩ đến sự giúp đỡ cho người khác. Còn Bồ – tát thì chỉ nghĩ đến
lợi ích của người khác mà không nghĩ đến mình. Khác nhau là ở điểm này.
Bồ – tát thì tự làm lợi ích cho mình còn lo làm lợi ích cho người khác.
Tự giác ngộ mình xong rồi giúp cho người khác giác ngộ. Tự độ hoàn toàn,
lợi tha hoàn toàn. ý nghĩa của chú Đại Bi mà tôi đang giảng cũng nằm
trong đạo lý này vậy.
14. Tát bà a tha đậu du bằng
Câu chú này chia làm ba phần. Khi trì tụng lên, câu chú có ba nghĩa khác nhau:
Tát bà có nghĩa là “tất cả”. Còn có nghĩa là “bình đẳng”. Nên Tát bà
biểu tượng cho ý thứ hai trong mười tâm, là “bình đẳng tâm”.
A tha đậu dịch nghĩa là “phú lạc vô bần” giàu có, an lạc, không nghèo nàn về tâm linh, đạo lý, Phật pháp.
Còn dịch nghĩa là “như ý bất diệt”.
“Như ý” nghĩa là ước nguyện điều gì cũng đều được thành tựu.
“Bất diệt” nghĩa là sự thành tựu do nguyện ấy vĩnh viễn không tiêu mất.
Trong mười loại tâm thì đây là “vô vi tâm” nghĩa là “phú lạc vô bần” và “như ý bất diệt”.
Du
bằng dịch là “nghiêm tịnh vô ưu”, là thanh tịnh và trang nghiêm. Trang
nghiêm lại thêm thanh tịnh, cho nên không có sự lo phiền, ưu não. Câu
chú này biểu tượng cho tâm thứ chín “Vô kiến thủ tâm”. Kiến thủ là một
trong năm món “ngũ lợi sử”. Nghĩa là khi quí vị vừa trông thấy một vật
gì, tâm liền khởi niệm muốn chiếm đoạt, giữ lấy. Nên với tâm thứ chín –
vô kiến thủ tâm là trạng thái không có mảy may vọng động về sự chấp thủ
đối với pháp và ngã; đối với chủ thể cũng như khách thể; đối với ngoại
cảnh cũng như dòng chuyển biến của thức tâm.
15. A thệ dựng
A
thệ dựng la tiếng Phạn, dịch nghĩa “vô tỷ pháp”. Không có pháp nào có
thể so sánh được với pháp này. Còn có nghĩa là “vô tỷ giáo” nghĩa là
không có đạo giáo nào có thể so sánh được. Câu chú này biểu tượng cho
tâm thứ bảy, được gọi là “ty hạ tâm”, là tâm rất cung kính và tùy thuận
bất kỳ người nào mình gặp. Câu chú này còn biểu tượng cho tâm thứ tám,
gọi là “vô tạp loạn tâm”. Đây chính là pháp thanh tịnh, không chút cấu
nhiễm, chính là pháp bát nhã tâm của Quán Thế Âm Bồ – tát.
Mười
loại tâm này là tướng của Đà – la – ni, chúng ta phải đem những đạo lý
này hành trì không xao nhãng và gián đoạn. Chúng ta tu tập theo tinh
thần của kinh Đại bi tâm Đà la ni thì chắc chắn sẽ thành tựu đạo nghiệp,
đắc thành chánh quả.
16. Tát bà tátđá, na ma bà tát đa, na ma bà già
Tát bà tát đá là tiếng Phạn, dịch là “Đại thân tâm Bồ – tát”.
Na
ma bà tát đa. Hán dịch là “đồng trinh khai sĩ”, là tên gọi khác của
pháp vương tử, cũng là hàng Bồ – tát. “Đồng trinh” biểu tượng cho bản
tánh. Còn “khai sĩ” cũng là một danh hiệu khác của Bồ –tát, có nơi gọi
là “đại sĩ”. Các vị Bồ – tát lúc sắp thành tựu Phật quả, đều được gọi là
pháp vương tử, tên gọi của hàng Thập địa Bồ – tát.
Na ma bà già.
Hán dịch là “Vô đẳng đẳng”. Giống như ý nghĩa trong Bát nhã tâm kinh “Cố
tri Bát – nhã ba – la – mật – đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú,
thị vô lượng chú, vô đẳng đẳng chú”.
Quí vị có thể hỏi: “Cái gì
không thể sánh bằng?” “Đó là bà già, Hán dịch là Thế tôn”. Bà già là chư
Phật thường trụ ở khắp trong mười phương.
17. Ma phạt đạt đậu
Ma phạt đạt đậu dịch nghĩa là “Thiên thân, thế hữu”.
Câu
chú này có nghĩa là: “Kính lạy chư Bồ – tát, xin hãy duỗi lòng từ cứu
giúp con. Xin các Ngài hãy là thân quyến ở cõi trời của chúng con và là
người bạn ở cõi thế gian này của chúng con, để hộ trì cho mọi thiện pháp
được thành tựu”.
Câu chú này thỉnh nguyện sự gia trì của mười phương chư Phật và chư Bồ – tát.
18. Đát điệt tha – án
Trong Bát nhã tâm kinh có nói: “Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết…”
Đát
điệt tha Hán dịch là “tức thuyết chú viết”. Còn dịch là “Sở vị”. Bồ –
tát Quán Thế Âm dùng Tâm đại bi mà nói ra chơn ngôn này, nói bằng các
chủng tự của Phạm Thiên.
Đát điệt tha còn có nghĩa là “thủ ấn”
nghĩa là kết ấn bằng tay. Cũng gọi là “trí nhân” nghĩa là khai mở con
mắt trí tuệ của chúng sinh.
Đát điệt tha lại còn có nghĩa là vô lượng pháp môn tu học và trí huệ nhãn vô lượng. Đó là ý nghĩa của “Sở vị”.
Chữ
án như đã nói ở trước, khi quí vị trì niệm trì niệm đến chữ án thì quỷ
thần đều phải chắp tay cung kính, lắng nghe người niệm chỉ giáo. Chữ án
còn có công năng lưu xuất nhiều pháp môn sau đây.
19. A bà lô hê
A
bà lô hê chính là Bồ – tát Quán Thế Âm. Có nghĩa là “quán sát”. Dùng
trí tuệ để quán sát mọi âm thanh oqr thế gian. Trong thế gian có nhiều
loại âm thanh. Bồ – tát Quán Thế Âm quán sát âm thanh, tiếng kêu than
cầu xin cứu khổ của người ở thế gian khi họ không thể vượt qua nổi những
khổ nạn.
20. Lô ca đế
Lô ca đế nghĩa là
“Tự tại” hoặc là “Thế Tôn”. Hợp lại hai câu trên A bà lô hê lô ca đế
nghĩa là Bồ – tát dùng trí tuệ để quán sát âm thanh ở thế gian. Chính là
danh hiệu của Bồ – tát Quán Thế Âm.
21. Ca ra đế
Ca
ra đế dịch là “Bi giả” là người có lòng từ bi rộng lớn, thường cứu giúp
chúng sinh thoát khỏi khổ đau và thất vọng. Người mà có thể cứu giúp
cho chúng sinh vơi bớt khổ đau là một người “đại bi”. Ca ra đế còn có
nghĩa là “tác giả”. Người có thể làm cho đạo nghiệp sinh khởi, giúp cho
mọi chúng sinh đều phát tâm bồ – đề, phát nguyện làm những việc khó làm
như hành Bồ – tát đạo để tiến tới tựu thành Phật quả.
22. Di hê rị
Di
hê rị dịch nghĩa là “Thuận giáo”. Khi quí vị trì tụng đến câu chú này,
nghĩa là quí vị tự phát nguyện: “Con nhất quyết thực hành theo hạnh
nguyện của Bồ – tát Quán Thế Âm, sẽ giáo hoá cho tất cả chúng sanh. Con
nguyện nương theo giáo pháp Ngài đã dạy mà tu hành”.
Di hê rị còn
có nghĩa là “Y giáo phụng hành”. Nương theo lời dạy của Bồ – tát Quán
Thế Âm cũng như Quán Thế Âm của tự tâm để thực sự tu trì.
23. Ma ha bồ đề tát đoả
Ma ha có nghĩa là “đại” là to lớn.
Bồ – đề có nghĩa là “giác đạo”, là giác ngộ được đạo lý chân chính.
Tát
đoả. Hán dịch là “đại dũng mãnh giả”. Câu này có nghĩa chư vị Bồ – tát
là người phát tâm đại bồ – đề rất dũng mãnh và phát tâm tu hạnh Bồ đề.
Phát bồ đề tâm nghĩa là gieo trồng nhân giác ngộ, tu bồ – đề hạnh là vun
trồng, tưới tẩm cho hạnt giống bồ – đề đã gieo được nảy mầm, rồi mới
mong gặt được quả giác ngộ, tức là quả vị Vô thượng bồ – đề.
Đây
là ý nghĩa của câu chú Ma ha Bồ đề tát đoả. Câu chú này thuyết minh về
công hạnh trang nghiêm viên mãn của chư vị Bồ – tát là do định huệ song
tu. Khi Định đã lắng trong thì Huệ cũng được chiếu sáng. Khi Huệ đã viên
mãn, thì Định viên dung. Vì Bồ – tát Quán Thế Âm đã đạt được định lực
viên mãn, nên xuất sinh trí tuệ sáng suốt. Vì Bồ – tát đã đạt được trí
tuệ viên mãn, nên Ngài mới đạt được định lực lắng trong. Không có Định
thì chẳng có Huệ và không có Huệ thì chẳng đạt được Định. Nên gọi định
huệ không hai là vậy.
Do nhờ tu tập vô số công hạnh mà Bồ – tát
được trang nghiêm thân tướng nên chư vị không rời bỏ một pháp nào dù nhỏ
bé hoặc vô cùng vi tế. Dù một việc thiện nhỏ nhất, cho đến lớn nhất,
chư vị Bồ – tát đều hoàn tất chu đáo. Nên kinh có dạy”
“Chớ khinh việc thiện nhỏ mà không làm
Chớ xem thường việc ác nhỏ mà không tránh”.
Các
vị Bồ – tát thường siêng năng làm các điều thiện và dứt khoát từ bỏ các
việc ác, chư vị phát bồ – đề tâm và đạt được quả vị giác ngộ Vô thượng
bồ – đề. Chư vị trang nghiêm pháp thân bằng vô số công hạnh. Chư vị phát
đại bi tâm, thực hành đại pháp vô duyên từ tuỳ theo tâm lượng của chúng
sinh mà làm Phật sự. Nhưng chính các vị Bồ – tát, tự bản tánh và bản
thể của các Ngài không hề gợn một mảy may tướng trạng của chúng sinh
tâm. Các Ngài tự thấy mình và toàn thể chúng sinh có đồng một thể tánh,
không hề phân hai. Các Ngài không chỉ chịu khổ cho riêng mình, mà ước
nguyện giúp cho chúng sinh thoát khỏi mọi khổ luỵ. Dù các Ngài chuyển
hoá tất cả mọi sự thống khổ cho chúng sinh mà không hề dính mắc chút nào
vào việc mình có độ thoát cho chúng sinh. Các Ngài không bao giờ tự cho
rằng:
“Tôi đã cứu độ cho anh rồi, nay anh phải cám ơn tôi. Tôi đã giúp anh thoát khỏi mọi phiền não, anh phải tỏ ra biết ơn tôi”.
Chính
vì chư vị Bồ – tát không có tâm niệm như vậy, nên các Ngài mới có thể
ứng hiện ba mươi hai thân tướng, để kịp thời đáp ứng mọi tâm nguyện của
mọi loài chúng sinh. Chẳng hạn như cần ứng hiện thân Phật để độ thoát
chúng sinh, thì chư vị Bồ – tát liến ứng hiện thân Phật để giảng dạy
giáo pháp cho chúng sinh khiến họ được giải thoát. Nếu cần thiết hiện
thân Bích Chi Phật, thì các Ngài liền ứng hiện thân Bích Chi Phật để
giáo hoá chúng sinh, giúp họ được giải thoát. Cũng như vậy, các Ngài có
thể ứng hiện thân A la hán, vua chúa… để giúp cho chúng sinh được độ
thoát. Chư vị Bồ – tát có khả năng hóa hiện thành ba mươi hai ứng thân
để cứu độ các loài chúng sinh. Các Ngài cũng có được mười bốn pháp vô uý
và bốn pháp bất khả tư nghì. Đó là bốn loại thần thông diệu dụng không
thể nghĩ bàn. Các Ngài đã chứng đạt được quả vị chân thật viên thông, đã
thành tựu quả vị Vô thượng bồ – đề. Đó là sự thành tựu quả vị của Bồ –
tát Quán Thế Âm.
24. Tát bà tát bà
Tát bà
tát bà. Hán dịch là “nhất thiết lợi lạc”. Câu chú này bao hàm cả Bảo thủ
nhãn ấn pháp, nghĩa là mang đến mọi thứ lợi lạc cho mọi người.
Bằng
cách hành trì ấn pháp này, quí vị có khả năng đem sự an vui lợi lạc đến
cho hết thảy mọi loài chúng sinh. Thiên vương, Diêm vương, Quỷ vương
đều chấp hành theo người trì tụng ấn chú này. Quí vị bảo họ: “Hãy thả
tội nhân này ra” thì Diêm vương liền tức khắc thả ra liền. Vì sao vậy?
Vì quí vị đã có được Bảo ấn này.
Bảo ấn này cũng như ấn của vua
vậy. Trên chiếu thư có ngọc ấn của vua thì khắp thiên hạ, ai có trách
nhiệm gì cũng phải tuân theo chiếu thư mà thi hành, không ai dám chống
lại. Với Bảo ấn, quí vị có thể làm lợi lạc, an vui cho mọi loài chúng
sinh. Quí vị có thể chỉ bảo cho họ biết sự lợi lạc để phát nguyện hành
trì. Và sẽ đạt được sự an lành. Vì vậy nên gọi là “Nhất thiết lợi lạc”.
Người
Trung Hoa đều biết có một vị Tiên, biết sử dụng một ấn chú gọi là
“Phiên thiên ấn”. Người con của Quảng Thành vương cũng có một phiên
thiên ấn. Chính là ấn này vậy. Đạo Lão gọi là “Phiên thiên ấn”. Bồ – tát
Quán Thế Âm gọi là “Bảo ấn”.
Nếu quí vị dụng công hành trì thì
nhất định sẽ thành tựu Bảo ấn này. Khi thành tựu rồi, nếu có người vừa
mới chết hoặc sắp chết, quí vị chỉ cần trì ấn này vào một tờ giấy, và
viết vài dòng cho Diêm vương: “Hãy tha cho người này sống lại ngay. Hãy
tha cho anh ta trở về dương gian”. Diêm vương không dám từ chối. Diệu
dụng của Bảo ấn có thể giúp cho người chết sống lại. Nhưng để sử dụng
được Bảo ấn này, trước hết quí vị phải thành tựu công phu tu tập đã. Nếu
công phu chưa thành tựu thì chẳng có kết quả gì.
Thế nào nghĩa là
thành tựu công phu tu hành? Cũng giống như đi học. Trước hết, quí vị
phải vào tiểu học, rồi lên trung học, rồi thi vào đại học. Rồi cuối cùng
có thể được học vị Tiến sĩ.
Tu tập để thành tựu Bảo ấn này cũng
như đạt được học vị Tiến sĩ vậy. Nhưng tạm ví dụ vậy thôi, chứ Bảo ấn
này không có gì so sánh được.
Tát bà tát bà nghĩa là “lợi lạc cho
tất cả mọi loài chúng sinh”. Quí vị thấy sự diệu dụng vô biên đến như
thế. Nên gọi ấn này là Bảo ấn. Nếu quí vị muốn sử dụng được Bảo ấn này
thì phải công phu tu trì qua cả bốn mươi hai thủ nhãn. Tát bà tát bà chỉ
là một trong bốn mươi hai ấn pháp ấy mà thôi.
Có người nghe tôi
giảng như vậy sẽ khỏi nghĩ rằng: “Ta sẽ tu tập Bảo ấn này ngay để bất kỳ
lúc nào có người sắp chết, ta sẽ sử dụng ấn này, ra lệnh cho Diêm vương
không được bắt người ấy chết”. Quí vị cứ thực hành, quí vị có thể giúp
người kia khỏi chết, như ng đến khi quí vị phải chết, thì chẳng có người
nào giúp quí vị thoát khỏi chết bằng Bảo ấn này cả.
Tôi đã có dịp
sử dụng ấn này hai lần. Một lần ở Mãn Châu và một lần ở Hương Cảng. Lần
ở Mãn Châu là trường hợp cứu một người sắp chết. Người này chắc chắn sẽ
chết nếu tôi không sử dụng Bảo ấn này. Vào một chiều trời mưa ngày 18
tháng 4 âm lịch. Một người tên là Cao Đức Phúc đến chùa Tam Duyên, nơi
tôi đang ngụ. Anh ta quỳ trước tượng Phật, cầm một cây dao bọc trong
giấy báo, chuẩn bị sẵn sàng chặt tay để cúng dường chư Phật. Quí vị nghĩ
sao? Anh ta khôn ngoan hay không? Dĩ nhiên là quá ngu dại. Tuy nhiên sự
ngu dại của anh ta lại xuất phát từ lòng hiếu đạo. Quí vị biết không.
Mẹ anh ta bị bệnh trầm trọng gần chết. Do vì thường ngày mẹ anh ta
nghiện thuốc phiện nặng. Nhưng bệnh bà quá nặng đến mức hút thuốc phiện
cũng không được nữa. Bà ta nằm co quắp, chẳng ăn uống gì. Đầu lưỡi đã
trở sang màu đen, môi miệng nứt nẻ. Bác sĩ Đông, Tây y đều bó tay, không
hy vọng gì còn chữa trị được. Nhưng người con trai của bà nguyện: “Lạy
Bồ – tát rất linh cảm, con nguyện đến chùa Tam Duyên chặt tay cúng dường
chư Phật. Với lòng chí thành, con nguyện cho mẹ con được lành bệnh”.
Ngay
khi chàng trai sắp chặt tay, có người nắm tay anh ta lôi lại đằng sau
rồi nói: “Anh làm gì thế, anh không được vào đây mà tự sát”.
Anh ta trả lời:
– “Tôi chỉ chặt tay cúng dường chư Phật, cầu nguyện cho mẹ tôi được lành bệnh. Ông đừng cản tôi”.
Chàng
trai chống lại, nhưng người kia không để cho anh ta chặt tay nên liền
cho người báo cho Hoà thượng trụ trì biết. Hoà thượng cũng không biết
phải làm sao, Ngài liền phái cư sĩ Lý Cảnh Hoa, người hộ pháp đắc lực
của chùa đi tìm tôi.
Dù lúc ấy, tôi vẫn còn là chú Sa – di. Tôi
được giao nhiệm vụ như là tri sự ở chùa Tam Duyên, chỉ dưới Hoà thượng
trụ trì. Tôi chỉ là một chú tiểu, nhưng không giống như những chú tiểu
cùng ăn chung nồi, cùng ngủ chung chiếu. Tôi thức dậy trước mọi người và
ngủ sau tất cả mọi người. Tôi làm những việc mà không ai muốn làm và
chỉ ăn một ngày một bữa trưa, không ăn phi thời. Tu tập chính là sửa đổi
những sai lầm vi tế. Nếu khi chưa chuyển hoá được những lỗi lầm nhỏ
nhặt ấy, có nghĩa là mình còn thiếu năng lực trong công phu.
Hoà thượng trụ trì giao việc đó cho tôi. Tôi liền đến bạch Hoà thượng:
– “Phật tử đến cầu Hoà thượng cứu giúp. Nay Hoà thượng lại giao cho con. Hoà thượng làm cho con thật khó xử”.
Hoà thượng trụ trì bảo:
– “Con hãy đem lòng từ bi mà cứu giúp họ”.
Hoà thượng dạy những lời rất chí lý. Tôi vốn chẳng ngại khó nhọc, nên khi nghe những lời đó, tôi rất phấn khích, tôi thưa:
– Bạch Hoà thượng, con sẽ đi.
Tôi bảo chàng trai:
– Anh hãy về nhà trước, tôi sẽ theo sau.
Anh ta nói:
– Nhưng thầy chưa biết nhà con?
Tôi đáp:
– Đừng bận tâm về tôi. Hãy cứ về nhà trước.
Lúc
ấy là vào khoảng năm giờ chiều, mặt trời vừa xế bóng. Anh ta đi theo
đường lộ chính, còn tôi đi theo đường mòn. Nhà anh ta cách chùa chừng
sáu dặm. Anh ta quá đỗi sửng sốt khi về đến nơi, anh ta đã thấy tôi ngồi
đợi anh trong nhà.
– Bạch thầy, sao mà thầy biết nhà con mà đến sớm thế?
Tôi nói:
– Có lẽ anh vừa đi vừa chơi, hoặc anh ham xem bóng đá hay truyền hình gì đó.
Cậu ta đáp:
– Thưa không, con cố hết sức đi thật nhanh để về nhà.
Tôi nói:
– Có lẽ xe đạp của anh đi không được nhanh như xe tôi, nên tôi đến trước.
Ngay
khi vào thăm bà mẹ, tôi thấy không thể nào cứu sống bà ta được. Nhưng
tôi vẫn quyết định cố gắng hết sức để cứu bà. Tôi dùng Bảo ấn viết mấy
dòng:
“Chàng trai này có tâm nguyện rất trí thành, nguyện chặt tay
cúng dường chư Phật để cứu mẹ sống. Tôi đã ngăn cản anh ta chặt tay.
Bằng mọi cách, xin cho mẹ anh ta được sống”.
Tôi gửi Bảo ấn đi, sáng hôm sau bà ta vốn đã nằm bất động suốt bảy, tám ngày nay, chợt ngồi dậy gọi con trai bằng tên tục.
– Phúc ơi… Phúc ờ… mẹ đói quá, cho mẹ tí cháo…
Chàng trai suốt bảy, tám ngày nay không nghe mẹ gọi. Nay cực kỳ vui sướng. Anh ta chạy đến bên giường nói với mẹ:
– Mẹ ơi, mẹ đã nằm liệt giường suốt tám ngày nay. Nay mẹ khoẻ rồi chứ?
Bà ta trả lời:
–
Chẳng biết bao lâu nữa. Mẹ bị rượt chạy trong một cái hang tối đen thăm
thẳm không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng ánh sao hay đèn đuốc gì cả.
Mẹ chạy và cứ chạy hết ngày này qua ngày khác để tìm đường về nhà mình.
Mẹ có kêu, nhưng chẳng ai nghe. Cho đến đêm hôm qua, mẹ mới gặp một vị
sư khổ hạnh mang y cà sa đã mòn cũ, vị này đã dẫn mẹ về nhà… Con cho mẹ
ăn tí cháo loãng để cho đỡ đói.
Người con nghe mẹ nói đến vị sư, liền hỏi:
– Nhà sư mẹ gặp dung mạo như thế nào?
Bà đáp:
– Ngài rất cao. Nếu mẹ được gặp lại, mẹ sẽ nhận ra ngay.
Lúc đó tôi đang nghỉ trên giường. Anh ta liền đến bên tôi, chỉ cho mẹ và hỏi:
– Có phải vị sư này không?
Bà nhìn tôi chăm chú rồi kêu lên:
– Đúng rồi, chính thầy là người đã đưa mẹ về nhà.
Lúc đó, toàn gia quyến chừng mười người, gồm cả già trẻ, đều quỳ xuống trước mặt tôi thưa:
–
Bạch Thầy, Thầy đã cứu mẹ con sống lại. Nay toàn gia đình chúng con cầu
xin được quy y thọ giới với Thầy. Bất luận nhà chùa có việc gì, con
nguyện đem hết sức mình xin làm công quả, và tuân theo lời chỉ dạy của
Thầy để tu hành.
Về sau, dân cả làng này đều đến chùa xin quy y và cầu xin tôi chữa bệnh cho họ. Tôi bảo:
– Tôi chỉ có phép chữa bệnh bằng cách đánh đòn. Quí vị có chịu thì tôi chữa.
Họ đồng ý và tôi phải chữa. Có nghĩa là bắt người bệnh nằm xuống, đánh một người ba hèo bằng cái chổi tre. Đánh xong, tôi hỏi:
– Đã hết bệnh chưa?
Thật là ngạc nhiên. Họ lành bệnh thật!
Đó
là một chuyện phiền phức xảy ra ở Mãn Châu. Lần thứ 2 tôi dùng Bảo ấn
này là ở Hương Cảng. Khi bố của cô Madalena Lew 79 tuổi bị bệnh. Các vị
bói toán đều bảo rằng ông ta chắc chắn sẽ qua đời trong năm nay. Ông ta
đến gặp tôi xin quy y Tam Bảo để cầu nguyện gia hộ cho ông được sống
thêm ít năm nữa.
Ông thưa:
– Bạch Thầy. Xin Thầy giúp cho con được sống thêm một thời gian nữa.
Tôi bảo:
– Thế là ông chưa muốn chết. Tôi sẽ giúp cho ông sống thêm 12 năm nữa? Được chưa?
Ông rất mừng vội đáp:
– Thưa vâng, được như thế thật là đại phúc.
Rồi tôi chú nguyện cho ông ta và ông ta được sống thêm 12 năm nữa.
Tuy nhiên, quí vị không nên dùng ấn pháp này để giúp cho người ta khỏi
chết hoặc là cứu họ sống lại khi họ đã chết rồi. Nếu quí vị làm như vậy,
quí vị trở nên đối đầu với Diêm vương. Lúc ấy Diêm vương sẽ nói:
– Được rồi. Thầy đã giúp cho người ta khỏi chết, nay Thầy phải thế mạng.
Đến
khi quí vị gặp cơn vô thường; chẳng có ai dùng Bảo ấn này để giúp được
cả. Nếu quí vị nghĩ rằng mình có thể sử dụng Bảo ấn để cứu mình khỏi
chết là quí vị lầm. Diệu dụng của ấn pháp cũng giống như lưỡi dao, tự nó
không thể cắt đứt được chuôi dao của chính nó. Nên khi quí vị gặp bước
đường cùng, thì cũng giống như chuyện vị Bồ – tát bằng đất nung:
Bồ Tát bằng đất nung đi qua biển.
Khó lòng giữ thân được vẹn toàn.
Vậy
nên nếu quí vị dù đã thông thạo trong khi sử dụng ấn pháp này, cũng
phải công phu hành trì thêm. Vì lý do này mà tôi ít để ý đến việc riêng
của người khác nữa.
25. Ma ra ma ra
Hai
câu chú này, Hán dịch là “tăng trưởng”. Cũng có nghĩa là “như ý” hoặc
“tuỳ ý”. Đó là công năng của Như ý Châu thủ nhãn, làm tăng trưởng phước
huệ, làm cho mọi việc đều được tốt lành như ý.
“Như ý” nghĩa là tuỳ thuận với tâm nguyện mà được đáp ứng.
Quí
vị có thấy lợi ích vô biên của ấn pháp này không? Vì vậy nên công năng
ấn pháp này là thứ nhất trong bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp. Diệu dụng
của Như ý Châu thủ nhãn vượt ngoài sự diễn tả bằng ngôn ngữ.
Nếu
quí vị muốn giàu có, hãy hành trì theo thủ nhãn ấn pháp này. Một khi đã
thành tựu rồi, thì quí vị sẽ có được mọi thứ và không còn bận tâm vì
nghèo khổ nữa. Quí vị luôn luôn giàu có và được vô lượng phước lạc.
26. Ma hê ma hê rị đà dựng
Ma hê ma hê. Hán dịch là “Vô ngôn cực ý”
“Vô ngôn” nghĩa là không cần phải nói nữa.
“Cực ý” có nghĩa là ý niệm kia đã đạt đến chỗ tối thượng, đã đạt chỗ vi diệu rồi.
Ma
hê ma hê cũng còn có thể dịch là “tự tại”. Tự tại như Đại Phạm Thiên
Vương: không buồn, không phiền, không lo, không giận. Suốt ngày đều được
tự chủ và an vui.
Đây là “ngũ sắc vân thủ nhãn”. Khi biết ấn này,
sẽ làm lưu xuất ra mây lành ngũ sắc, và hành giả sẽ đạt được năng lực tự
tại phi thường. Diệu dụng và năng lực tự tại của ấn pháp này thực là vô
lượng vô biên.
Rị đà dựng là “Thanh Liên Hoa thủ nhãn”. Có nghĩa
là “Liên hoa tâm”. Khi quí vị hành trì ấn pháp này thành tựu, sẽ được
mùi hương hoa sen xanh toả ra, và được mười phương chư Phật tán thán. Sự
vi diệu thật khó có thể nghĩ bàn. Đúng là:
Pháp Phật cao siêu thật nhiệm mầu
Trăm ngàn ức kiếp khó tìm cầu!
27. Cu lô cu lô yết mông
Cu
lô cu lô. Hán dịch là “tác pháp”, hoặc dịch là “tác dụng trang nghiêm”,
lại còn có nghĩa là “xuy loa giải giới”. Đây ta chính là Bảo loa thủ
nhãn ấn pháp.
Nay chúng ta đang sống trong thời mạt pháp. Nhiều
người nghĩ rằng chỉ cần trì tụng chú Đại Bi là khế hợp với chân tinh
thần Phật pháp rồi, nhưng thực ra không phải thế. Chú Đại Bi là gọi thay
cho bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp và diệu dụng của chú Đại Bi là diệu
dụng của bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, đó chính là toàn thể của chú Đại
Bi. Nếu quí vị chỉ biết trì niệm chú Đại Bi mà không hành trì bốn mươi
hai thủ nhãn ấn pháp thì như người có tay mà không có chân, nên không
thể đi được. Mặt khác, nếu quí vị chỉ biết hành trì bốn mươi hai thủ
nhãn ấn pháp mà không trì niệm chú Đại Bi thì cũng như người có chân mà
không có tay, không làm gì được cả. Cũng vô dụng mà thôi. Vậy nên để
liễu triệt chú Đại Bi, trước hết quí vị phải thông đạt bốn mươi hai thủ
nhãn ấn pháp rồi phải trì tụng chú Đại Bi nữa, mới được gọi là người
thành tựu rốt ráo diệu pháp này của chư Phật.
Không phải chỉ vừa mới nghe pháp sư giảng về chú Đại Bi xong rồi liền nói:
– “à! Tôi đã hiểu được câu chú đó nghĩa là gì rồi”.
Hiểu
như thế cũng chẳng ích lợi gì cả. Cũng giống như người có thân thể
nhưng chẳng có tay chân gì cả. Quí vị đã có đủ cả thân thể, tay chân,
phải giúp cho chúng hoạt động phối hợp với nhau mới làm nên phước đức
được.
Bảo loa thủ nhãn ấn pháp là dùng để tác pháp khi quý vị kiến
lập đạo tràng, quý vị nên dùng Bảo loa ấn pháp này. Khi quý vị tác pháp
này thì những âm thanh vang lên tận cõi trời, thấu tận địa ngục. Khắp
cõi nhân gian, và khắp mọi nơi đều có ảnh hưởng. Bất kỳ mọi nơi nào nghe
đến âm thanh này đều ở trong sự điều khiển của người trì ấn pháp. Các
loài yêu ma quỷ quái đều phải tuân phục, không thể xâm hại. Đây còn gọi
là sự kiết giới.
ấn pháp này còn gọi là “tác dụng trang nghiêm”. Có
nghĩa là dùng cơn lốc quang minh tâm lực của Bảo loa ấn pháp sẽ tạo nên
một pháp âm vi diệu, khiến cho đất bằng hoá thành vàng ròng, đều được
trang nghiêm bằng bẩy thứ châu báu. Thật là vi diệu khó thể nghĩ bàn.
Quý vị Phật tử đang tu học Phật Pháp nên biết rằng trong 300 năm trở lại
đây, không có ai hành trì được bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp và cũng
chẳng có ai thông hiểu được các ấn pháp này.
Nay chúng ta đã hiểu
được chú Đại Bi, chúng ta nên chí thành và phát tâm kiên cố hành trì bốn
mươi hai thủ nhãn ấn pháp này. Rồi sẽ có được diệu dụng.
Yết mông
là tiếng Phạn, vốn là ngôn ngữ của Đại phạm thiên, chứ không phải là
ngôn ngữ của ấn Độ, nhưng văn pháp ngôn ngữ ấn Độ cũng căn cứ trên ngôn
ngữ của Đại phạm thiên.
Yết mông là tiếng Phạn. Hán dịch là “biện
sự”, cũng dịch là “công đức”. Có nghĩa là làm tất cả mọi việc có công
đức lợi lạc cho mọi người. Làm việc lợi lạc công đức cho mọi người cũng
chính là tạo công đức cho chính mình. Bồ – tát thực hành hạnh tư lợi và
lợi tha, tự giác ngộ giải thoát cho mình và giác ngộ giải thoát cho
người khác.
Câu chú này nói đến sự thực hành lục độ và vạn hạnh.
Đó chính là Bạch Liên Hoa thủ nhãn ấn pháp. Hãy tưởng tượng quí vị đang
cầm trong tay đoá hoa sen trắng. Tay quí vị cầm cành hoa sen và miệng
trì niệm chú Yết mông yết mông…
Không những quí vị trì tụng chú mà
còn hành trì mật ấn. Khi trì tụng cả hai pháp này, quí vị mới có thể
tạo nên mọi công đức. Khi quí vị trì tụng chú Đại Bi, đồng thời cũng
thông hiểu được cách hành trì bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp thì quí vị
mới có thể thành tựu lục độ vạn hạnh. Diệu dụng bất khả tư nghì, không
bao giờ nói hết được. Nếu có thể nói được chỗ nhiệm mầu ấy thì nó phải
có ngần mé. Mà những điều mầu nhiệm thì không có hạn lượng, không có chỗ
khởi đầu và kết thúc. Với sự trì niệm Yết mông, quí vị có thể thành tựu
được vô lượng công đức. Trong nhiều đời sau, quí vị mãi mãi được trang
nghiêm bởi hương thơm của hoa sen trắng và luôn luôn được hộ trì.
Sự vi diệu, mầu nhiệm của chú Đại Bi dù có tán thán cũng không bao giờ hết, không bao giờ cùng tận.
28. Độ lô độ lô, phạt già ra đế
Độ lô độ lô. Hán dịch là “độ hải” nghĩa là vượt qua biển khổ sinh tử. Còn dịch nghĩa “minh tịnh”.
Khi
đã vượt qua biển khổ sinh tử rồi, quí vị sẽ đạt được trí tuệ sáng suốt,
chứng nhập bản thể thanh tịnh, đến được bờ bên kia, tức thể nhập Niết
Bàn. Từ trong bản thể sáng suốt thanh tịnh ấy, trí tuệ sẽ được lưu xuất,
quí vị sẽ hiểu rõ được tất cả mọi pháp môn, chắc chắn quí vị sẽ chấm
dứt được vòng sinh tử. Với đại định, tâm quí vị hoàn toàn thanh tịnh. Đó
là định lực, khi quí vị có được định lực chân chánh thì có thể vãng
sanh ở cõi tịnh độ tươi sáng, đó là thế giới Cực Lạc.
Đây là
Nguyệt Tịnh Ma Ni thủ nhãn ấn pháp, là diệu pháp Đà – la – ni do Bồ –
tát Nguyệt Quang tuyên thuyết. ấn pháp Nguyệt Tịnh thủ nhãn này có công
năng đưa mọi người đến chỗ sáng suốt và an lạc.
Phạt già ra đế là Bàng Bi thủ nhãn ấn pháp.
Phạt
Già Ra đế. Hán dịch là “Quảng bác trang nghiêm”, còn có nghĩa là “Quảng
đại”. Cũng dịch là “độ sinh tử”. Nếu quí vị tu tập hành trì Bàng Bi thủ
nhãn ấn pháp này thì quí vị có thể vượt qua biển khổ sinh tử, có nghĩa
là giải thoát. Nếu quí vị không công phu hành trì ấn pháp bàng bi thủ
nhãn này, thì không thể nào vượt thoát bể khổ sinh tử, đến bờ giải
thoát, niết bàn được.
29. Ma ha phạt già da đế
Câu chú này có nghĩa là “Tối thắng, đạipháp đạo”.
Pháp
là quảng đại, tối thắng và đạo cũng quảng đại, tối thắng. Pháp đạo là
chân lý vượt lên trên tất cả mọi sự thù thắng nhất trên đời.
Đây
là Bảo Kích thủ nhãn ấn pháp. ấn pháp này có công năng hàng phục các
loại thiên ma và ngoại đạo. Công năng của ấn pháp này rất lớn. Chẳng hạn
ấn pháp này có thể bảo vệ quốc gia chống nạn ngoại xâm. Nếu quốc gia
của quí vị sắp bị xâm lăng, và nếu quí vị hành trì ấn pháp này thì vô
hình trung, quân giặc bắt buộc phải rút lui.
30. Đà la đà la
Tiếng
Phạn rất khó hiểu. Ngay cả những ai đã học tiếng Phạn thông thạo rồi
cũng khó có thể hiểu được mật chú và giảng giải rõ ràng được. Tôi chỉ
nhờ hiểu một chút ít thần chú Đại Bi mà thôi.
Đà là đà la là Tịnh
bình thủ nhãn ấn pháp. Trong tịnh bình này chứa nước cam lồ. Bồ – tát
Quán Thế Âm dùng cành dương liễu rưới nước cam lồ lên khắp chúng sanh
trong sáu đường. Bất luận ai gặp nạn khổ hay bệnh tật gì, nếu được Bồ –
tát Quán Thế Âm rưới nước cam lồ thì đều giải thoát khỏi tai nạn ấy.
Đà
la đà la. Hán dịch là “Năng tổng trì ấn”, là tâm lượng của toàn chúng
sinh. Chính là Bồ – tát Quán Thế Âm dùng Cam lồ thủ nhãn ấn pháp, Tịnh
bình thủ nhãn ấn pháp và Dương chi thủ nhãn ấn pháp – tất cả ba ấn pháp
ấy để rưới nước cam lồ lên toàn thể chúng sinh, cứu độ chúng sinh ra
khỏi tam đồ lục đạo.
31. Địa lỵ ni
Địa lỵ
ni. Hán dịch rất nhiều nghĩa. Thứ nhất là “thậm dõng” nghĩa là dũng khí
mãnh liệt. Cũng có nghĩa là “tịnh diệt hoặc khiết tịnh”.
“Thậm dũng” là dạng tướng động.
“Tịnh diệt” là dạng tĩnh.
Còn dịch là “Gia trì và thôi khai”.
– “Gia trì” có nghĩa là làm cho các ác pháp đều được chuyển hoá, hướng về phụng hành theo thiện pháp.
– “Thôi khai” là làm cho các nghiệp chướng, tai nạn của chúng sinh đều được tiêu trừ.
Đây
là Cu thi thiết câu thủ nhãn ấn pháp. Gọi tắt là thiết câu ấn pháp, có
công năng làm cho tất cả quỷ thần, thiên long bát bộ đến hộ trì cho hành
giả. Nếu quí vị công phu hành trì thành tựu thủ nhãn này, thì có thể
bảo thiên long làm mưa và sẽ có mưa ngay, nếu hành giả cần có gió, họ sẽ
làm ra gió ngay, khi hành giả muốn mưa gió đừng hoành hành thế gian
nữa, mưa gió sẽ hết ngay.
Quí vị sẽ nói: “Tôi không tin như vậy”.
Đúng vật! Đó chính là lý do mà tôi muốn nói cho quí vị nghe, tất cả chỉ
là vì quí vị không tin. Không có niềm tin và không ở trong cảnh giới này
thì khó lòng hiểu nổi.
Nếu muốn, quí vị có thể hỏi những người
vừa mới từ Đài Loan trở về ngày hôm nay về cơn mưa ở Đài Loan. Khi tôi
nói chuyện với Phật tử ở Đài Loan qua điện thoại, họ cho biết trời đang
mưa và rất lạnh. Họ mong muốn thời tiết được ấm áp và bớt mưa. Tôi bảo
họ hãy yên tâm, chuyện đó sẽ xảy ra. Họ lại thắc mắc:
– Sư phụ có thể khiến trời hết mưa hay sao?
Tôi chỉ nói vắn tắt:
– Quí Phật tử hãy đợi xem trời có tạnh mưa hay không?
Ngay khi tôi vừa cúp điện thoại, thì trời bắt đầu tạnh ráo. Họ đều cho đó là chuyện lạ kỳ.
(Những ai đã đến Đài Loan năm 1969 để dự giới đàn, đều có thể chứng
kiến chuyện này. Trời mưa dầm ở Keelong Đài Loan ít nhất cũng là 48
ngày, nhiều nhất là 53 ngày. Chúng tôi đang ở Đài Loan để thọ giới. Cả
tự viện không còn chất đốt, một khi củi đã bị ướt rồi, thì không còn
cách nào để sưởi cho khô lại được. Tuy nhiên,vào sáng ngày 18/4 như đã
nói ở trên, đúng ngay lúc chúng tôi vừa chấm dứt cuộc điện đàm thì mặt
trời vừa hiện ra, bầu trời trở nên sáng trong và khí trời trở nên ấm áp
liền. Chú thích của người dịch từ Hoa văn sang Anh Ngữ).
Thực
ra, đó chẳng phải là gì khác, chính là năng lực của thiết câu thủ nhãn
ấn pháp. Quí vị chỉ cần kiết ấn và gọi: “Thiên long, đừng làm mưa nữa!”
thì trời sẽ dứt mưa ngay. Loài rồng sẽ chấp hành theo lệnh của quí vị và
chỉ khi quí vị đã thành tựu ấn pháp này và đã thông thạo thiết câu thủ
nhãn. Rồng phun mưa sẽ tuân theo ấn pháp này và đình chỉ việc làm mưa
liền.
Quí vị sẽ nghĩ là tôi nói đùa nhưng đúng là như vậy. Bây
giờ, tôi đang giảng kinh cho quí vị nghe và tôi đang nói với quí vị bằng
chân ngữ. Đây không phải là chuyện nói đùa.
32. Thất phật ra da
Mỗi
khi quí vị niệm Thất Phật ra da thì toàn pháp giới này có một luồng
chớp sáng phát ta. Cứ mỗi niệm Thất Phật ra da là có một luồng quang
minh phóng ra bao trùm cả vũ trụ.
Thất Phật ra da được dịch là
“phóng quang”. Còn dịch là “tự tại”. Phiên âm từ tiếng Phạn “Isara” như
trong chữ “Avalokihesvara”. ở đây có nghĩa là “Quán”, vì có quán chiếu
thâm sâu rồi mới được “tự tại”. Nếu quí vị không có sức quán chiếu thâm
sâu, thì quí vị sẽ không đạt được năng lực tự tại.
Quán chiếu
nghĩa là hướng vào bên trong tự tâm mà công phu chứ không phải hướng ra
ngoại cảnh bên ngoài. Nghĩa là hướng vào bên trong mà quán chiếu không
ngừng. Hãy tự hỏi: “Ta có hiện hữu hay không?”. Ông chủ có hiện hữu
trong chính tự thân quí vị hay không? Quí vị có làm chủ được mình hay
không? Mặt mũi xưa nay của ông chủ có hiện hữu hay không? Thường trụ
chơn tâm thể tánh thanh tịnh có hiện hữu hay không? Nếu những cái đó đều
hiện hữu, có nghĩa là quí vị đạt được tự tại. Còn nếu không hiện hữu,
có nghĩa là quí vị không có được tự tại.
Sự phóng quang cũng mang ý
nghĩa tự tại. Nếu quí vị đạt được năng lực tự tại, thì quí vị có thể
phóng quang. Nếu chưa có được năng lực tự tại, thì không thể phóng quang
được.
Thất Phật ra da cũng được dịch là “Hoả diệm quang”, cũng
gọi là Hoả quang. Đó là lửa, nhưng không phải là lửa phát sinh từ tập
khí phiền não, như quí vị thường nói: “Tôi vừa nổi nóng như lửa”. Đó
cũng không phải là lửa xuất phát từ sự sân hận, phẫn nộ, căm hờn của quí
vị, mà đó chính là lửa trí tuệ. Đó cũng chính là nước từ trí tuệ tiết
ra để dập tắt lửa vô minh. Trí tuệ chân chính hiển lộ khi lửa vô minh bị
dập tắt. Đó chính là Hoả Diệm Quang.
Khi quí vị trì tụng Thất
Phật ra da tức là quí vị đang phóng quang. Nhưng trước tiên quí vị phải
có được năng lực tự tại. Không có năng lực tự tại thì quí vị không thể
nào phóng quang được. Hãy nhớ kỹ điều này.
Đây là Nhật Tinh Ma Ni
thủ nhãn ấn pháp. ấn pháp này có công năng chữa trị bệnh mắt mờ không
thấy rõ. Dùng ấn pháp này khiến cho mắt được sáng lại.
33. Giá ra giá ra
Giá
ra giá ra dịch nghĩa là “hành động”. Đó là hành động như quân đội thi
hành một mệnh lệnh hành quân. Hành quân là một mệnh lệnh nếu quí vị
không tuân hành, có nghĩa là chống lệnh.
Đây là Bảo đạc thủ nhãn
ấn pháp. Khi quí vị rung chuông, âm thanh vang lên khắp không gian,
thông cả thiên đàng, chấn động cả địa giới. Nếu quí vị cần thực hiện
việc gì, chỉ cần rung chuông lớn, các loài chư thiên, thiện thần, yêu ma
quỷ quái đều tuân theo mệnh lệnh của quí vị. Chẳng hạn như khi có động
đất, quí vị chỉ cần rung chuông lên rồi ra mệnh lệnh: “Quả đất không
được rung lên như vậy”, trái đất trở về trạng thái yên bình ngay.
Bảo đạc thủ nhãn ấn pháp cực kỳ diệu dụng. Nếu quí vị muốn hát với một
âm điệu tuyệt vời, thì hãy công phu hành trì ấn pháp này. Khi công phu
thành tưu rồi, tiếng hát của quí vị trong suốt như tiếng đại hồng chung
vang lên trong không gian.
34. Ma ma phạt ma la
Ma
ma. Hán dịch là “ngã sở thọ trì”. Đó chính là một loại mệnh lệnh hành
động. Có nghĩa là “mọi việc tôi làm bảo đảm chắc chắn phải được thành
tựu”.
Ma ma là Bạch phất thủ nhãn ấn pháp. ở Trung Hoa, các đạo sĩ
và Tăng sĩ Phật giáo thường sử dụng phất trần, các vị cao tăng thường
cầm phất trần khi đăng bảo toạ để thuyết pháp.
Bạch phất thủ nhãn
ấn pháp có công năng trừ sạch mọi nghiệp chướng của thân, trừ được mọi
chướng nạn và bệnh tật. Chỉ cần phất lên thân vài lần là có thể tiêu trừ
mọi nghiệp chướng và chữa lành mọ ma chướng sinh ra bệnh tật.
Bạch
phất thủ nhãn ấn pháp có rất nhiều công dụng, nhưng người biết cách
dùng ấn pháp này lại rất ít. Tôi biết hiện nay có rất ít người sử dụng
được ấn pháp này.
Năm người Tây phương đầu tiên vừa đi thọ giới Cụ
túc ở Đài Loan đã trở về. Họ đã trở thành những vị Tỷ Khưu, Tỷ Khưu Ni
chân chính. Họ vừa về đến phi trường vào lúc 4 giờ 30 chiều nay, chuyến
bay 910 của hãng hàng không Trung Hoa. Ngày nay Phật giáo Giảng Đường đã
có được nhiều xe hơi nên toàn thể Phật tử hộ pháp trong đạo tràng cũng
như toàn thể Phật tử ở San Francisco – Cựu Kim Sơn – Hoa Kỳ – đều có thể
ra phi trường để đón mừng các vị tân Tỷ Khưu.
Bình thường, tôi
chẳng muốn đến phi trường nhưng trong chuyến bay ấy có chở về vài tượng
Phật, nên tôi ra phi trường để nghênh đón tượng Phật chứ không phải để
đón các đệ tử của tôi. Các đệ tử của tôi cũng không cần tôi đón, cũng
chẳng cần đưa. Khi họ đi Đài Loan thọ giới, tôi đã nói với họ rằng:
“Khi mê thì thầy độ
Khi ngộ rồi tự độ”.
Nay
họ phải tự độ chính họ, họ đã ra đi, nay lại trở về. Chắc chắn họ phải
tự tìm ra con đường từ phi trường về chùa. Họ chẳng cần tôi phải chỉ
dẫn: “Quẹo ở đó, đi theo đường này, đó là đường về chùa”.
Điều buồn cười nhất là khi họ viết thư báo cho tôi biết họ đã bỏ quên một thùng Kinh. Tôi bảo:
“Bỏ
quên kinh chẳng có gì quan trọng. Điều quan trọng chính là không có ai
trong các con bị bỏ quên”. Năm người đi thọ giới và nay năm người đều đã
trở về. Sao vậy? Vì tôi đã mua bảo hiểm ở chư vị Bồ – tát, nên để cho
bất kỳ ai bị bỏ sót lại là điều không thể chấp nhận được. Nếu một người
không về, tức là chư vị Bồ – tát không thực hiện đúng hợp đồng. Thế nên
tôi rất tin tưởng rằng tất cả các giới tử sẽ trở về và dịch vụ bảo hiểm
của chư vị Bồ – tát không cần phải thanh toán hợp đồng.
Quí vị nên
nhớ một điều. Những người thọ giới Cụ túc trở về hôm nay là những vị Tổ
khai sơn của Phật giáo Mỹ quốc. Đừng xem việc này đơn giản. Điều này
rất chân thực. Đừng như những kẻ tự cho mình là Phật tử, chỉ nằm ở nhà
mà thích gọi mình là “Tổ tại gia”. Thực vậy, cách đây vài hôm, có một vị
Tổ sư tự phong đến đây và muốn hát tặng cho tôi nghe. Tôi giễu cợt ông
ta: “Thật chán khi nghe ông hát”. Ông ta chỉ bật lên: “ồ!”, một tiếng
rồi bỏ đi.
Phạt ma ra là “Hàng ma kim cang hộ pháp”, tay cầm bánh xe bằng vàng. Vị hộ pháp này có thể hoá thân lớn như núi Tu Di.
Phạt
ma ra. Hán dịch là “Tối Thắng Ly Cấu”, có nghĩa đó là pháp thù thắng
nhất, xa lìa tất cả mọi cấu nhiễm ở thế gian. Còn có nghĩa là “vô tỷ như
ý”. Vì không có gì có thể sánh với pháp này và tuỳ tâm nguyện của mình
mà mọi điều xảy ra như ý muốn.
Đây là Hoá cung Điện thủ nhãn ấn
pháp. Nếu quí vị hành trì được ấn pháp này thành tựu, thì đời đời quí vị
sẽ được sống cùng một trụ xứ với đức Phật (như trong một cung điện),
không còn phải thọ sinh vào các loài thai sinh, noãn sinh và thấp sinh
nữa. Công dụng của sự thành tựu ấn pháp này là đời đời được sống cùng
chư Phật.
35. Mục đế lệ
Mục đế lệ là Dương
chi thủ nhãn ấn pháp của đức Phật. Đó là nhánh cây mà quí vị thường
thấy Bồ – tát Quán Thế Âm cầm ở một tay, còn tay kia Bồ – tát cầm một
tịnh bình. Nhành dương này được Bồ – tát nhúng vào tịnh bình rồi rưới
lên cho tất cả mọi chúng sinh bị đau khổ. Nước này không như nước
thường. Đó là nước cam lồ. Chúng sinh nào được nước này tưới nhuận sẽ có
nhiều lợi lạc. Nước cam lồ có thể giúp cho mọi chúng sinh thoát khỏi
khổ luỵ đói khát và bản tâm đạt được thanh lương.
Mục đế lệ còn
dịch nghĩa là “giải thoát”. Đó là giải thoát khỏi mọi khổ nạn, bệnh tật
và chướng ngại. Nên Bồ – tát Quán Thế Âm thường dùng Dương chi thủ nhãn
ấn pháp này để giúp giải thoát cho chúng sinh khỏi mọi bệnh tật, khổ nạn
và những điều bất như ý. Bề ngoài, chú này dường như không có gì quan
trọng lắm, nhưng một khi quí vị công phu hành trì ấn pháp này thành tựu
rồi, thì không những quí vị có thể giúp giải thoát cho chúng sinh khỏi
bệnh tật và khổ nạn mà còn có thể hàng phục cả thiên ma ngoại đạo. Khi
những thiên ma ngoại đạo được thấm nhuận nước cành dương này, họ tự
nhiên hồi tâm hướng thiện, thực hành theo chánh pháp. Do vậy, Dương chi
thủ nhãn có diệu dụng vô cùng vô tận, không thể nghĩ bàn.
Giọt
nước cam lồ từ bàn tay Bồ – tát Quán Thế Âm không những chỉ giúp cho quí
vị thoát khỏi mọi bệnh tật, khổ nạn mà còn có một diệu dụng khác, khi
một người sắp chết, nếu có phước duyên, được Bồ – tát Quán Thế Âm rảy
nước lồ thì có thể sống lại. Tất cả các loài cây cỏ thảo mộc đã khô héo
nếu được nước cam lồ tưới xuống cũng được hồi sinh. Cây cỏ là loài vô
tình, mà khi được nước cam lồ tưới tẩm còn được nảy mầm, đơm hoa, kết
trái như vậy nên chúng sinh là loài hữu tình sẽ được lợi lạc biết bao.
Đó là diệu dụng của Dương chi thủ nhãn ấn pháp.
36. Y hê y hê
Y hê y hê là Độc lâu trượng ấn thủ nhãn ấn pháp. Hán dịch là “thuận giáo”.
Nghĩa
là một khi quí vị nhờ ai làm việc gì đó, họ đều ưng thuận. Khi quí vị
dùng chánh pháp để giáo hoá, họ đều vâng lời. Câu chú này còn dịch là
“tâm đáo”. Nghĩa là trong tâm hành giả ước nguyện điều gì, nhờ năng lực
của chú này đều được thành tựu. Câu chú này khiến cho Ma – hê – thủ – la
vương, là một Thiên ma ngoại đạo thường cho rằng mình là vĩ đại nhất,
cũng phải cung kính chắp tay đến nghe lời chỉ giáo khi nghe có người trị
tụng thần chú này, không dám trái nghịch. Thế nên khi quí vị trì niệm
câu Y hê Y hê, thì Ma – hê – thủ – la vương liền đến, bất kỳ tâm nguyện
của hành giả như thế nào, vị này liền thi hành ngay, đáp ứng đúng như sở
nguyện của người trì chú.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét